Trang ChủKim ÂuBáo ChíLưu TrữVấn ĐềChính Nghĩa ViệtĐà LạtThư QuánDịch ThuậtTự Điển

Tác Phẩm Chính Nghĩa BBC LONDON HISTORY AUSTRALIAN RFI PARIS Chân Thiện Mỹ Tác Giả

ESPN3Sport TVMusicLotteryDanceSRSB RadioVideos/TVLearning

 

 

 

 

 

US Senator John McCain , Kim Âu Hà văn Sơn

NT Kiên , UCV Bob Barr, Kim Âu Hà văn Sơn

 

 

 

 

 

NT Kiên, Kim Âu, Ross Perot Cố Vấn An Ninh Đặc Biệt của TT Reagan, NT Sám

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  

 

 

 

Không ǵ nguy hiểm hơn bạn bè ngu dốt; tôi thà có kẻ thù khôn.

Nothing is as dangerous as an ignorant friend; a wise enemy is to be preferred.

La Fontaine

 Đế quốc Việt Nam

ベトナム帝国

Quốc gia được Đế quốc Nhật Bản bảo hộ

 

1945    →

 

 →

Quốc kỳ của Đế quốc Việt Nam

Quốc kỳ

Quốc ca

Đăng Đàn Cung

Vị trí của Đế quốc Việt Nam

Vị trí của Đế quốc Việt Nam

Thủ đô Phú Xuân

Ngôn ngữ        Tiếng Việt

Chính thể        Quân chủ lập hiến

Hoàng đế         Bảo Đại

Tổng lư            Trần Trọng Kim

Thời đại lịch sử           Thế chiến II

 - Khởi đầu năm          11/3

 - Giải thể        23/8

Đế quốc Việt Nam (Tiếng Nhật: ベトナム帝国 (betonamu teikoku)/ 越南帝國 (etsunan teikoku); Chữ Nôm: 帝國越南 (Đế Quốc Việt Nam)) là một quốc gia trong lịch sử Việt Nam tồn tại 5 tháng (từ 17 tháng 3, 1945 - 23 tháng 8, 1945) được Nhật Bản hậu thuẫn sau khi triều đ́nh Nhà Nguyễn tuyên bố xóa bỏ Hiệp ước Patenôtre.

Sau khi Đế quốc Nhật Bản tuyên bố "trao trả độc lập cho Việt Nam", Bảo Đại thành lập chính quyền mới thân Nhật tại Việt Nam, với chính thể quân chủ lập hiến do Trần Trọng Kim làm thủ tướng[1], c̣n Bảo Đại được Nhật Bản công nhận là vua của chính thể mới theo mô h́nh Quân chủ lập hiến - giống như ở Nhật Bản lúc bấy giờ. Tuy nhiên chính phủ này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn cho tới khi bị xóa bỏ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

 

Theo nhiều tài liệu lịch sử trong và ngoài Việt Nam, đây là chính quyền do Nhật dựng lên và không có thực quyền[2][3]. Mặc dù vậy, theo tác giả Lê Xuân Khoa, Đế quốc Việt Nam cũng "đóng một vai tṛ nhất định trong lịch sử". Theo nhận định của Bảo Đại, đây là một cơ hội để cho Việt Nam có thể chuẩn bị đầy đủ khả năng nhận lănh hay đ̣i hỏi độc lập hoàn toàn khi thế chiến thứ II kết thúc.[4]

 

Mục lục   

1 Nhật đảo chính Pháp và Đế quốc Việt Nam tuyên bố thành lập

2 Thành lập nội các Đế quốc Việt Nam

3 Thành lập Đế Quốc Việt Nam

3.1 Thả tù chính trị

3.2 Thành lập Thanh niên Tiền tuyến

3.3 Thu hồi Nam Kỳ

3.4 Cải cách hành chính

3.5 Sơ thảo hiến pháp

3.6 Thay thế ảnh hưởng của Pháp

3.7 Đưa tiếng Việt làm quốc ngữ chính

3.8 Cứu đói

4 Sụp đổ

5 Nhận xét

6 Xem thêm

7 Chú thích

8 Liên kết ngoài

 

Nhật đảo chính Pháp và Đế quốc Việt Nam tuyên bố thành lập

Trong Đệ nhị thế chiến, quân đội Pháp đă mất quyền kiểm soát Đông Dương thuộc Pháp và quyền này rơi vào tay người Nhật vào năm 1941. Tuy nhiên, người Nhật vẫn giữ lại những quan chức Pháp và chỉ điều khiển sau hậu trường.

 

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, khi t́nh h́nh chiến tranh Thái B́nh Dương thay đổi bất lợi, Nhật đổi chính sách và đảo chính Pháp, bắt giam các tướng lănh và tước khí giới của quân đội Pháp ở Đông Dương. Đại sứ Nhật ở Đông Dương là Matsumoto Shunichi giao cho đại diện Pháp là Toàn quyền Đông Dương Đô đốc Jean Decoux tối hậu thư đ̣i người Pháp phải chấp nhận vô điều kiện quyền chỉ huy của Nhật trên mọi phương diện. Ở Huế đại úy Kanebo Noburu vào tŕnh báo vua Bảo Đại quyền lực của Pháp đă bị loại.[5] Cùng chiều hướng đó Đế quốc Nhật Bản thỏa thuận trao trả độc lập cho Việt Nam trên danh nghĩa.

 

Hai ngày sau, 11 Tháng Ba năm 1945, vua Bảo Đại triệu cố vấn tối cao của Nhật là đại sứ Yokoyama Masayuki vào điện Kiến Trung để tuyên bố nước Việt Nam độc lập.[6] Cùng đi với Yokoyama là tổng lănh sự Konagaya Akira và lănh sự Watanabe Taizo.[7] Bản tuyên ngôn đó có chữ kư của sáu vị thượng thư trong Cơ mật Viện là Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Ưng Úy, Bùi Bằng Đoàn, Trần Thanh Đạt, và Trương Như Đính, nguyên văn chiếu chỉ đề ngày 27 Tháng Giêng ta năm thứ 20 niên hiệu Bảo Đại:[8]

 

  Cứ theo[9] t́nh h́nh thế giới nói chung và hiện t́nh Á Châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Ḥa ước Bảo hộ kư kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một Quốc gia Độc lập.    ”

Bảo Đại, [10]

Theo đó triều đ́nh Huế hủy bỏ Ḥa ước Patenôtre kư với Pháp năm 1884 vốn áp đặt nền bảo hộ lên toàn cơi nước Việt.

 

Với Dụ số 1 ra ngày 17 tháng 3, vua nêu khẩu hiệu "Dân Vi Quư" (chữ Nho: 民爲貴; lấy dân làm quư) làm phương châm trị quốc. Vua Bảo Đại giải tán nội các cũ, các Thượng thư đồng loạt từ chức. Nhà sử học Trần Trọng Kim được nhà vua gọi ra Huế giao nhiệm vụ thành lập nội các mới. Lúc đó vua Bảo Đại nói với Trần Trọng Kim: "Trước kia người ḿnh chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, Nhưng ḿnh cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ th́ người Nhật bảo ḿnh bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên v́ nghĩa vụ lập thành một chính phủ để lo việc nước."" [11]

 

Thành lập nội các Đế quốc Việt Nam

Nội các mới được thành lập vào ngày 17 tháng 4 với Trần Trọng Kim là nội các tổng trưởng. Đây là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam (không kể các triều đại phong kiến và chính phủ bảo hộ của Pháp trước đó) và Trần Trọng Kim trở thành thủ tướng đầu tiên của Việt Nam. Với nội các tập hợp được những trí thức có danh tiếng lúc bấy giờ, thành phần nội các ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4, trong đó có:

 

Bác sĩ Trần Đ́nh Nam - Bộ trưởng Bộ Nội vụ

Luật sư Trịnh Đ́nh Thảo - Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Kỹ sư Lưu Văn Lang - Bộ trưởng Công chính

Bác sĩ Hồ Tá Khanh - Bộ trưởng Bộ Kinh tế

Luật sư Phan Anh - Bộ trưởng Bộ Thanh niên

Thạc sĩ Hoàng Xuân Hăn - Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ nghệ

Cựu Tổng đốc tỉnh Thái B́nh là Phan Kế Toại được bổ làm Khâm sai Bắc Kỳ c̣n Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai Nam Kỳ đại diện cho triều đ́nh Huế ở trong Nam và ngoài Bắc. Tại Hà Nội Phan Kế Toại tiếp thu phủ thống sứ và Trần Văn Lai nhậm chức ở ṭa đô chính trước đám đông dân chúng đến chứng kiến việc thu hồi độc lập trên danh nghĩa.[12]

 

Thành lập Đế Quốc Việt Nam

Bài chi tiết: Nội các Trần Trọng Kim (tháng 4, 1945)

 

Cờ lệnh của Hoàng đế Bảo Đại.

Tháng 6 năm 1945, Chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam; đặt quốc ca là bài hát Đăng Đàn Cung; quốc kỳ có "nền vàng h́nh chữ nhật, giữa có h́nh quẻ Ly màu đỏ thẫm".

 

Cho dù không đứng vững được bao lâu, Nội các Trần Trọng Kim đă cố gắng đặt nền móng xây dựng một thể chế độc lập và tự chủ đầu tiên không thuộc Pháp.[13] Tuy không được chuẩn bị kỹ lưỡng cũng như thiếu thốn rất nhiều nhân sự và vật lực để điều hành một chính phủ vừa manh nha, đối ngoại th́ phải cố gắng dung ḥa các thế lực quốc tế và chủ thuyết Đại Đông Á của Đế quốc Nhật, đối nội th́ có nhiều phe phái muốn giành chính quyền, chính phủ mới vẫn đạt được một số điều kiện cơ bản, nhóm lên hy vọng độc lập và tự chủ cho nước Việt Nam.[4]

 

Thả tù chính trị

Trong những bước đầu tiên là Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Đ́nh Thảo ra lệnh thả hàng ngàn tù nhân chính trị bị Pháp giam giữ bao gồm đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương và các đảng phái khác.[4]

 

Thành lập Thanh niên Tiền tuyến

Tiếp theo đó th́ Bộ trưởng Bộ Thanh niên Phan Anh đứng tổ chức đội Thanh niên Tiền tuyến theo tinh thần quốc gia để huy động quốc dân giữ an ninh v́ không có bộ quốc pḥng. Đế quốc Việt Nam không thành lập Bộ quốc pḥng để tránh phải tham gia chiến tranh thế giới thứ II với tư cách đồng minh của Nhật Bản.[4]

 

Thu hồi Nam Kỳ

Trong thời gian ngắn ngủi chấp chính, chính phủ mới đă làm được một việc quan trọng nhất là thống nhất trên danh nghĩa xứ Nam Kỳ vào nước Việt Nam kể từ ngày 8 Tháng Tám, 1945. Trước đó vào ngày 20 Tháng Bảy chính phủ Việt Nam cũng thu hồi ba nhượng địa cũ là Hà Nội, Hải Pḥng, và Đà Nẵng vốn bị người Pháp chia cắt và áp dụng quy chế trực trị.[14]

 

Về việc thu hồi Nam Kỳ th́ cuộc thương thuyết với Toàn quyền Tsuchihashi có kết quả mặc dù lúc đầu Tsuchihashi c̣n do dự v́ triều đ́nh Cao Miên cũng đ̣i đất Nam Kỳ. Thủ tướng Trần Trọng Kim phái Nguyễn Văn Sâm là khâm sai vào Sài G̣n tiếp thu. Đại sứ Yokoyama ở Huế theo đó tuyên bố trao trả Nam Kỳ cho triều đ́nh Huế. Ở ngoài Bắc th́ Thống sứ Nishimura bàn giao với khâm sai Phan Kế Toại tại Hà Nội ngày 12 Tháng 8, trong khi đó Thống đốc Minoda ở Sài G̣n đang đợi khâm sai Nguyễn Văn Sâm nhưng vị khâm sai măi đến ngày 19 mới đến nơi. Ngày 14 Tháng 8, chính phủ Trần Trọng Kim công bố chính thức tiếp thu Nam Kỳ. Chỉ được non mười ngày, Lực lượng Quốc gia Thống nhứt cùng Việt Minh vào chiếm các cơ sở công quyền ở Sài G̣n ngày 24 Tháng 8, 1945. Sang ngày 26 th́ khâm sai Nguyễn Văn Sâm từ nhiệm sau khi được tin vua Bảo Đại đă thoái vị ở Huế, chấm dứt thể chế Đế quốc Việt Nam.[15]

 

Cải cách hành chính

Chính phủ Trần Trọng Kim hợp nhất hai bộ máy hành chính Nam triều và Bảo hộ do thực dân Pháp để lại. Từ đây, chính phủ Trần Trọng Kim đứng đầu hệ thống hành chính thống nhất trên toàn quốc. Chính phủ buộc các quan chức địa phương chỉ được nhận chỉ thị và báo cáo trực tiếp với chính phủ Việt Nam chứ không được liên hệ với Sở Tối Cao Cố Vấn Nhật Bản. Tuy nhiên các cơ quan công an, tuyên truyền, thông tin liên lạc vẫn do người Nhật kiểm soát.[4]

 

Chính phủ thành lập Ủy ban Cải tổ và Thống nhất Luật pháp. Hội đồng Cải cách Cai trị, Tư pháp và Tài chính có 16 thành viên như các ông Vũ Văn Hiền, Trần Văn Chương, Trần Văn Ân, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đ́nh Nam, Phan Kế Toại được giao nhiệm vụ xúc tiến việc soạn thảo cơ cấu mới cho quốc gia.[16]

 

Chính phủ này c̣n dự định lập ra những Tư Vấn Hội Nghị ở các địa phương để giúp các Cơ Quan Hành Chính địa phương, tiến tới thành lập Tư Vấn Hội Nghị Toàn quốc giúp chính phủ cải cách quốc gia và soạn thảo Hiến Pháp. Thủ tướng Trần Trọng Kim ra chỉ thị ngày 8 Tháng Năm thành lập Hội nghị Tư vấn Quốc gia gồm 59 thành viên từ nhiều giới để giúp sức.[14] Sau đó sẽ bầu Quốc Hội Lập hiến để phê chuẩn và ban hành Hiến pháp. Những dự định này chưa được thực hiện th́ chính phủ đă giải tán.

 

Sơ thảo hiến pháp

Về mặt hành chánh, chính phủ cũng cho soạn sơ thảo một bản hiến pháp cấp tiến bảo đảm quyền tự do chính trị, tự do nghiệp đoàn và tự do tín ngưỡng. Hội đồng dự thảo Hiến pháp có 14 thành viên gồm có những ông Phan Anh, Nguyễn Tường Long, Vũ Đ́nh Ḥe, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Hồ Tá Khanh, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Văn Thinh, Hồ Hữu Tường.[16] Chính phủ cũng ra lệnh băi bỏ thuế thân cho những ai không tài sản và những người với lương dưới 100 đồng một tháng[17]

 

Thay thế ảnh hưởng của Pháp

Đốc lư Hà Nội là Trần Văn Lai và Đô trưởng Sài G̣n Kha Vạng Cân ra sức đưa người Việt vào thay thế các vị trí của người Pháp trong bộ máy chính quyền và phá hủy các bức tượng do người Pháp dựng lên trong các thành phố.[4]

 

Đưa tiếng Việt làm quốc ngữ chính

 

Một bước đột phá không kém là thay chương tŕnh dạy học bằng tiếng Pháp sang chương tŕnh học bằng Tiếng Việt, do học giả Hoàng Xuân Hăn đề ra. Thủ tướng Trần Trọng Kim giao việc này cho Hội đồng cải cách giáo dục với 18 thành viên trong đó có Hoàng Xuân Hăn, Hoàng thị Nga, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Minh Giám, Bùi Kỷ, Ngụy Như Kontum, Ưng Quả, Hồ Văn Ngà.[16]. Đây cũng là nền tảng xây dựng cho chương tŕnh giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa và giáo dục Việt Nam Cộng ḥa sau này. Tiếng Việt cũng được dùng làm ngôn ngữ hành chính, dùng ghi chép các giấy tờ, sổ sách.

 

Cứu đói

Năm 1945 th́ đường sắt Xuyên Đông Dương không c̣n sử dụng được nữa và đường thiên lư Bắc Nam cũng bị Đồng Minh ném bom phá hoại. Đường biển th́ quân Đồng minh đă gài thủy lôi ở cửa biển Hải Pḥng khiến hải cảng chính ở Bắc Kỳ cũng không thông thương được. Tàu chở hàng cỡ lớn đă bị Nhật trưng dụng, đồng thời quân Đồng minh phong tỏa đường biển nên tàu bè chở gạo ra bắc chỉ ra được đến Đà Nẵng. Khi không quân Đồng minh mở rộng tầm oanh kích th́ tàu chở gạo phải cập bến ở Quy Nhơn rồi cuối cùng chỉ ra được đến Nha Trang. Các kho thóc ở miền Bắc th́ do Nhật Bản nắm giữ để chuẩn bị chở về chính quốc nên không được phép dùng để phát chẩn cứu đói. Chính phủ Trần Trọng Kim phải huy động những phương tiện thô sơ chuyển vận gạo từ Nam ra Bắc như xe ḅ hay thuyền nhỏ. Do thiếu phương tiện và nhân lực nên dù đă cố gắng Đế quốc Việt Nam vẫn không làm thuyên giảm được hậu quả ghê gớm của nạn đói.[4]

 

Sụp đổ

Đế quốc Việt Nam được thành lập như một bộ phận của chính sách Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á của Nhật. Tuy nhiên, nó cũng chỉ là một trong những khẩu hiệu và khái niệm được dùng để biện hộ cho sự chiếm đóng của Đế quốc Nhật Bản tại Đông Á từ thập niên 1930 cho đến hết Đệ nhị thế chiến, trong đó các chính quyền bản xứ phải vận động người dân và nền kinh tế trong nước phục vụ cho lợi ích của Đế quốc Nhật Bản. Các chính quyền này trên danh nghĩa được độc lập song thực tế không có nhiều quyền lực, hầu hết các chính sách quan trọng đều do lực lượng quân quản Nhật quyết định (tiêu biểu như chính phủ bù nh́n Măn Châu quốc của cựu hoàng đế Phổ Nghi hay chính phủ Đế quốc Đại Hàn)[18].

 

V́ chưa phải là một thế lực chính trị được ủng hộ rộng răi và không có quân đội riêng, cũng không có bộ quốc pḥng (hoặc an ninh), chính phủ Trần Trọng Kim thực tế vẫn nằm dưới sự bảo hộ của quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương và chỉ kiểm soát được những thành phố và thị trấn lớn ở miền bắc và miền trung, trong khi không kiểm soát được t́nh trạng hỗn loạn diễn ra ở nhiều nơi khác. Trong thời kỳ cầm quyền, Đế quốc Việt Nam phải đối mặt với nhiều vấn đề: Sự tận thu tài nguyên của quân đội Nhật bản để phục vụ chiến tranh, và sự tranh giành chính quyền hoặc ảnh hưởng của nhiều thế lực khác nhau,[cần dẫn nguồn] và nhất là Nạn đói Ất Dậu làm chết gần 2 triệu người.

 

Tuy Chính phủ mới quyết định không thành lập Bộ Quốc pḥng để không bị Nhật lôi kéo tham gia vào thế chiến thứ II[19], Trần Trọng Kim vẫn giao cho Phan Anh lập đội Thanh niên Tiền tuyến (c̣n được gọi là phong trào Thanh niên khất thực). Tuy nhiên khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, lực lượng này lại đi theo Việt Minh.

 

Khi quân Nhật đầu hàng Đồng Minh, chính phủ Trần Trọng Kim cũng chỉ tồn tại được đến ngày 23 tháng 8 năm 1945. Lực lượng Việt Minh tổ chức quần chúng tiến hành cuộc Cách mạng tháng 8. Chính phủ Trần Trọng Kim không có hành động quân sự chống lại mà tự nguyện chuyển giao chính quyền cho Việt Minh. Việt Minh đưa ra bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa.

 

Ở miền Nam Việt Nam, Pháp theo quân Anh trở lại Đông Dương và ngày 23 tháng 9 năm 1945 đă nổ súng gây chiến ở Sài G̣n rồi mở rộng đánh chiếm Nam Bộ. Pháp đă chấp thuận đề xuất của một số chính trị gia thuộc Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (Conseil consultatif de Cochinchine) lập ra Cộng ḥa tự trị Nam Kỳ. Điều này được nhiều người đánh giá là âm mưu của Pháp muốn tách miền Nam Việt Nam ra khỏi Việt Nam.

 

Một số nhân sĩ của nội các Đế quốc Việt Nam đă tham gia vào việc xây dựng chính phủ Việt Nam Cộng ḥa sau đó tại lănh thổ miền Nam như Trần Văn Chương, Trần Đ́nh Nam. Một số khác tham gia Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam hoặc đi theo Việt Minh như ông Huỳnh Thúc Kháng, Phan Anh, Phan Kế Toại, Trịnh Đ́nh Thảo, Tạ Quang Bửu, Đặng Văn Hướng...

 

Nhận xét

Theo Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng:

"Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập sau khi Nhật Bản lật đổ chính quyền thuộc địa Pháp tại Đông Dương vào ngày 9 tháng 3, 1945 và tuyên bố trả độc lập cho Việt Nam. Nhưng v́ độc lập mà Nhật gọi là trao trả cho Việt Nam rất là giới hạn thành ra việc thành lập chính phủ cũng bị rất nhiều trở ngại. Phải mất trên một tháng từ khi ông Bảo Đại ra tuyên ngôn tuyên bố độc lập vào ngày 11 tháng 3 cho đến ngày 15 tháng tư mới thành lập được chính phủ. Đó là v́ Nhật không chịu bất kỳ những nhà chính trị nào dù là thân Nhật mà họ cho rằng có thể có những ước vọng độc lập nhiều hơn là Nhật dành cho.

Với an ninh, quốc pḥng và kinh tế tài chánh đều nằm trong tay quân đội Nhật, tất cả những ǵ mà chính phủ Trần Trọng Kim có thể đạt được trong việc giành lại chủ quyền cho Việt Nam thực tế là chỉ có tính cách biểu tượng. Nhưng trong t́nh huống Đông Dương vào năm chót của thế chiến thứ hai, biểu tượng này đóng một vai tṛ rất quan trọng. Biết rằng thất bại của Nhật Bản chỉ là một vấn đề thời gian, Trần Trọng Kim và chính phủ của ông đưa ra một chương tŕnh nhằm thay đổi tâm lư người Việt đến mức mà đất nước sẽ không thể trở lại t́nh trạng thuộc địa nữa một khi chiến tranh chấm dứt, như lời nói sau đây của ông Hoàng Xuân Hăn khi kể lại mục tiêu của cụ Kim khi thành lập cũng như là của ông khi tham gia chính phủ "Chúng tôi muốn đặt trước Đồng Minh khi chiến tranh chấm dứt với một nước Việt Nam độc lập trên thực tế để chúng ta không thể nào trở lại t́nh trạng cũ là một thuộc địa của Pháp nữa".

Theo ông Hăn, để đạt được mục tiêu này, họ đề ra ba nhiệm vụ chính. Thứ nhất thương thuyết với Nhật để chuyển nhưọng quyền chính trị và kinh tế về cho Việt Nam cũng như là thống nhất đất nước bị Pháp chia thành ba phần, bằng cách đưa Nam Kỳ và các thành phố Hà Nội, Hải Pḥng và Tourane trở lại dưới sự cai trị của triều đ́nh Huế. Thứ hai, Việt Nam hóa cơ cấu hành chánh thuộc địa của Pháp bằng cách thay thế các quan chức và chuyên viên Pháp, Nhật với người Việt. Và thứ ba tạo ra trong quần chúng một tinh thần quốc gia mới, một niềm ái quốc mới qua một hệ thống giáo dục hoàn toàn dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dậy. Theo ông Hoàng Xuân Hăn, họ hy vọng rằng sẽ có được từ một năm đến 18 tháng để thực hiện chương tŕnh này. " [13]

Theo lời thuật của Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Thanh niên:

Lúc ấy, những công chức người Pháp vẫn tiếp tục làm việc. Nhưng họ có mưu mô. Ngoan ngoăn cúi đầu trước Nhật. Thâm ư là chờ đợi xem thế nào? Chờ đợi một cách tích cực. Cụ thể là: Chịu sự sai bảo của ông chủ mới để được ngồi lỳ trong bộ máy hành chánh. Trong phủ Toàn quyền, trong phủ Thống sứ: toàn là người Pháp. Họ đă mất con bài chính trị, th́ phải giữ con bài hành chính... Chắc chắn Nhật chóng hay chầy sẽ đầu hàng. Giữ chặt các chức vụ hành chánh để c̣n có vai tṛ trong tương lai. Bên cạnh trận địa hành chánh, lại c̣n trận địa kín nữa chứ... Tôi với tư cách người yêu nước, tôi đă quan sát t́nh h́nh ấy. Chúng tôi không muốn bị cả người Pháp lẫn người Nhật đánh lừa ḿnh. Nhóm trí thức chúng tôi không phải một đảng mà là một nhóm, chúng tôi nghĩ rằng nhiệm vụ cấp bách là phải đuổi bọn Pháp ra khỏi bộ máy hành chính. Chúng tôi huy động sinh viên, thanh niên công chức làm việc đó. "Khẩu hiệu thứ hai của chúng tôi là tạm thời ngồi làm việc với người Nhật, nhưng không là "đồng tác giả" (co-auteurs), không phải là "kẻ hợp tác" với họ; phải giữ thế trung lập...."

Lấy tư cách là thành viên của chính phủ Trần Trọng Kim, tôi nói với ông rằng chúng tôi tuyệt đối không có ảo vọng ǵ về người Nhật. T́nh thế đă dứt khoát rồi. Phải là kẻ điên mới đi hợp tác với Nhật. Có những người điên, nhưng chúng tôi là trí thức, chúng tôi tham gia chính phủ là để phụng sự. Chính với chính sách ấy mà chúng tôi đă thành lập chính phủ với khẩu hiệu như vừa nói là: Đuổi cổ bọn Pháp và nắm lấy độc lập....

Chính phủ Trần Trọng Kim với tất cả bộ trưởng cùng theo đuổi một mục đích như tôi; đă tự vạch ra đường lối chung cho ḿnh mà tôi vừa phác lại để ông thấy rơ. Chính phủ ấy khi ra đời đă tự coi như một mắt xích lâm thời, tôi có thể nói hẳn ra là, theo tôi nhận định, như một công cụ phục vụ cho sự nghiệp giành độc lập. Chúng tôi đă tự coi không phải là những người' lănh đạo phong trào, lănh đạo đất nước, mà là những công cụ, những tay chân của công cuộc đấu tranh dân tộc. Và do đó sự chuyển tiếp từ chính phủ Trần Trọng Kim đến nền cộng ḥa trong Cách mạng tháng Tám diễn ra một cách tự nhiên suôn sẻ nữa cơ. Tôi có thể nói với ông rằng với tư cách bộ trưởng, chúng tôi trăm phần trăm ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả, kể cả Thủ tướng Trần Trọng Kim. Đă có sự nhất trí toàn vẹn, sâu sắc về sự chuyển tiếp ấy.[19]

Nhà sử học, giáo sư Đinh Xuân Lâm:

Về phía Nhật Bản, chúng cũng nhanh chóng t́m cách nắm chắc bộ máy cầm quyền "bản xứ" do người Pháp lập ra trước đó, và nay đă hoang mang dao động trước vụ Nhật đảo chính Pháp. Chúng bày tṛ "trao trả độc lập" để làm áp lực buộc vua Bảo Đại kư đạo Dụ số 1 "cải tổ bộ máy triều đ́nh cho phù hợp với t́nh h́nh mới". Ngày 19 - 3, viện Cơ mật mới được thành lập trước đó (6-3) do Phạm Quỳnh đứng đầu xin từ chức, Nhật đưa Trần Trọng Kim từ Băng Cốc (Thái Lan) về Sài G̣n, rồi ra Huế gặp Bảo Đại và nhận đứng ra lập nội các mới. Ngày 17 - 4, nội các Trần Trọng Kim ra mắt. Ngày 4 - 5, nội các họp phiên đầu tiên, ngày 8 - 5 bệ kiến Bảo Đại và ra tuyên cáo chính thức. Nội các Trần Trọng Kim với thành phần là những trí thức có tên tuổi - trong số đó phải kể tới một số nhân vật tiêu biểu của nước ta trước năm 1945, có uy tín đối với nhân dân, như Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hăn, Trịnh Đ́nh Thảo, Phan Anh,…họ đều là giáo sư, luật gia, nhà báo chưa hề dính líu với bộ máy quan trường, trước đó lại từng có nhiều hoạt động thể hiện có tư tưởng yêu nước, có tinh thần dân tộc nên được nhiều người ngưỡng mộ - cũng đă làm cho một bộ phận nhân dân có phần tin tưởng, đặt hy vọng vào. Thủ đoạn của bọn cầm quyền Nhật là triệt để lợi dụng bộ máy chính quyền do chúng mới dựng lên để lũng đoạn t́nh h́nh có lợi cho chúng, chúng chỉ muốn có một chính phủ bù nh́n hoàn toàn để thi hành mọi ư định của chúng. Mặc dù vậy, nội các Trần Trọng Kim vượt qua bao khó khăn từ nhiều phía, chủ yếu là từ Nhật, với lời hứa hẹn "phấn đấu cho Việt Nam thành một quốc gia độc lập" và với những công tác lớn được đưa vào chương tŕnh hành động như "Giải quyết nạn đói", "Thống nhất chủ quyền lănh thổ"…là những yêu cầu cấp bách của t́nh h́nh lúc đó, cũng đă đáp ứng một phần ḷng mong mỏi của quốc gia. Đành rằng trong t́nh h́nh chiến tranh, bom đạn lúc bấy giờ, lại phải tiến hành các công việc trên dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà cầm quyền Nhật nên không có điều kiện thu được kết quả như mong muốn, nhưng dù sao th́ những chuyến tàu chở gạo Nam Bộ ra Bắc, cũng như những cuộc vận động để Nhật trao trả dần một số quyền trong việc quản lư đất nước, đ̣i hỏi cho Việt Nam những phần đất mà chế độ thuộc Pháp đă tách khỏi Việt Nam (Đà Nẵng, Hà Nội, Nam Kỳ), cũng phần nào nói lên sự cố gắng và nhiệt t́nh của các thành viên nội các Trần Trọng Kim. Rơ ràng là các thành viên nội các Trần Trọng Kim - tất nhiên là không phải hoàn toàn như nhau - đều có tinh thần yêu nước và mong muốn làm được một việc ǵ đó có lợi cho dân cho nước lúc bấy giờ.

...Cho nên suy nghĩ cho kỹ, xét đoán cho sâu để đánh giá cho đúng, hợp t́nh, hợp lư, chúng tôi cho rằng chính phủ Trần Trọng Kim lợi dụng thân Nhật là chính xác v́ thực tế nó ra đời do bàn tay Nhật tạo dựng theo ư định của Nhật, nhưng bảo rằng nó là bù nh́n e rằng chưa thật sự đúng, v́ trong thực tế nó vẫn có những chủ trương và việc làm ngoài ư muốn của Nhật và có lợi cho dân, cho nước... [3]

Xem thêm

Wikimedia Commons có thêm thể loại h́nh ảnh và phương tiện truyền tải về Đế quốc Việt Nam

Nội các Trần Trọng Kim (tháng 4, 1945)

Việt Nam trong Đệ nhị thế chiến

Quốc hiệu Việt Nam

Lịch sử Việt Nam

Trần Trọng Kim

Nạn đói Ất Dậu

Cao trào kháng Nhật cứu nước

Chú thích[sửa | sửa mă nguồn]

^ Một Cơn Gió Bụi (Hồi kư của Lệ Thần Trần Trọng Kim),Chương 4: Ra Huế lập chính phủ, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, Trích: "Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đă không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên bộ thượng thư đă tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải đứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó với mọi việc"

^ Lebra, Joyce C. Japan's Greater East Asia Co-Prosperity Sphere in World War II: Selected Readings and Documents. New York: Oxford University Press, 1975, p. 157, 158, 160

^ a ă Đinh Xuân Lâm, Nội các Trần trọng Kim với Trường Thanh Niên Tiền Tuyến Huế 1945 , trong sách "Trường Thanh niên tiền tuyến Huế-1945: Một hiện tượng lịch sử" (Nhà xuất bản Công An Nhân Dân, 2008); Trang Văn hóa Nghệ An trích đăng lại. Truy cập ngày 27/10/2012

^ a ă â b c d đ Lê Xuân Khoa, Huế năm 1945 và chính phủ Trần Trọng Kim, Việt Nam 1945 -1995, NXB Tiên Rồng, Hoa Kỳ, 2004

^ Hà Thúc Kư. Sống c̣n với Dân tộc. ?: Phương Nghi, 2009. tr 75

^ Nguyễn Ngọc Phách. Chữ Nho và đời sống mới. Melbourne: Hải Ngoại, 2004. Trang 525.

^ Dommen, Arthur. The Indochinese Experience of the French and the Americans. Bloomington, IN: Đại học Indiana Press, 2001. Trang 83

^ The Formulation of the National Discourse in 1945 Vietnam

^ Cổ ngữ: Căn cứ theo.

^ Hà Thúc Kư. Sống c̣n với Dân tộc, hồi kư chính trị. ?:Phương Nghi, 2009. tr 83

^ Theo lời kể của ông Trần Trọng Kim. Dẫn lại bởi Phạm Cao Dương trong bài viết trên Tạp chí Khởi Hành số 129, tháng 7.2007, tr. 26-28

^ Hoàng Tường. Việt Nam đấu tranh 1930-54. Westminster, CA: 1982. tr 62

^ a ă Ts Lê Mạnh Hùng trả lời phỏng vấn đài RFA 2006-04-15. Trích đăng lại tại [1]

^ a ă Dommen, Arthur J. tr 89

^ Dommen, Arthur J. The Indochinese Experience off the French and the Americans, Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Vietnam. Bloomington, IN: Indiana University Press, 2001. 101-756.

^ a ă â Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002. tr 1966

^ Ngô Văn. Việt Nam 1920-1945, Cách mạng và Phản Cách mạng. Montreuil, Pháp: L'Insomniaque Chuông Rè, 2000. Trang 301.

^ Lebra, Joyce C. Japan's Greater East Asia Co-Prosperity Sphere in World War II: Selected Readings and Documents. New York: Oxford University Press, 1975, trang 157, 158, 160

^ a ă Phan Anh trả lời sử gia Na Uy Stein Tonnesson. Dẫn lại bởi Phạm Cao Dương trong bài viết trên Tạp chí Khởi Hành số 129, tháng 7.2007, tr. 26-28

Liên kết ngoài[sửa | sửa mă nguồn]

Lê Xuân Khoa, Huế năm 1945 và chính phủ Trần Trọng Kim

Phạm Cao Dương, Về chính phủ của Bảo Đại và Trần Trọng Kim, phần 1; đăng lại tại: Về chính phủ của Bảo Đại và Trần trọng Kim

Lê Công Định, Ngày độc lập nào cho Việt Nam?, BBC, 1 tháng 9, 2014

 

 

 

 

 

 

 

http://www.chinhnghia.com/

http://www.kimau.com

http://chinhnghiaviet.informe.com/forum/

http://nguoidalat.informe.com/forum/

http://chinhnghiamedia.informe.com/forum/

 

 

 

 

Your name:


Your email:


Your comments:


 

 

NT Kiên, Kim Âu, Ross Perot Cố Vấn An Ninh Đặc Biệt của TT Reagan, NT Sám