Bài Cũ :  Tháng 6/08. Tháng 7 /2008   Tháng 8/08.  Tháng 9/08. 10/08. 11/08. 12/08  xin mời quư vị vào phần lưu trữ c̣n có  nhiều tài liệu, bài vở mới dùng vào việc nghiên cứu , tham khảo

 

Những đóa thơ cho phố núi Pleiku

  

Nguyễn Mạnh Trinh

 

 

Mấy ngày hôm nay, buổi sáng nào cũng mù mịt sương. Mùa Thu ở đây như gợi lại một nỗi niềm nào. Lái xe trên đường, trong cái mù mịt của đất trời thấy ḿnh như sống lại một thuở nào, ở không gian thời gian nào tuy thật xa nhưng trong giây phút hiện tại lại thật gần gũi. Cái tâm trạng bềnh bồng, của tiềm thức chơi vơi trong buổi sáng hôm nay như dẫn từng bước chân trở về, thuở xa xưa, ngày vừa trên hai mươi tuổi.

Lớn lên ở Sài G̣n, cả một thơ ấu nghịch phá, cả một khung trời mơ mộng. Những ngă tư, những con hẻm, những cổng trường, những mầu hoa Mùa Hạ, những xao xác lạnh cuối năm, tất cả đă thành kỷ niệm. Của một thành phố mà tưởng như chứa cả một phần đời sống của ḿnh. Rồi tuổi đôi mươi, rời khỏi ghế giảng đường vào lính. Th́ một thành phố, tuy heo hút sơn cùng thủy tận, nhưng lại chan chứa những kỷ niệm của những chàng lính trẻ, ngông nghênh vào đời tưởng như nắm cả vũ trụ trong tay. Sống ở đó, để thấy nhớ sài G̣n. Nhưng khi đổi về Biên Ḥa gần Sài G̣n th́ lại nhớ lại thời gian đă qua. Không nuối tiếc nhưng đầy bâng khuâng, và cái không gian se lạnh, cái đêm khuya mưa dầm, cái buổi sáng mù mịt, tất cả trộn lẫn để thành một phong vị khó tả.

Năm tôi lên phố núi tôi vừa qua cái tuổi đôi mươi. Hai mươi tuổi, tâm hồn lúc ấy trắng bong, tràn đầy mơ với mộng. Chưa có kinh nghiệm trường đời nên thường phản ứng trước những chướng tai gai mắt và theo suy nghĩ của nhiều vị chỉ huy, tôi là một đứa ba gai cần phải hành hạ để cho vào khuôn phép. Ở đâu cũng xa nhà nên tôi t́nh nguyện đi biệt đội Pleiku mút mùa lệ thủy và khi ở đây lập không đoàn th́ cũng là một trong những người khai sơn phá thạch của đơn vị.

Thời gian ở thành phố biên trấn này chỉ hơn hai năm mà sao tràn đầy kỷ niệm. Có những lúc, cơm sấy đồ hộp ngày này qua tháng khác mà vẫn vui. Lănh lương xong, chỉ một vài ngày là sạch nhẵn, thế mà tối nào cũng lang thang ở phố đến nửa đêm mới ṃ về phi trường. Ở đây, biết bao nhiêu đứa bạn, buổi sáng c̣n đùa giỡn chọc ghẹo nhau mà vài tiếng đống hồ sau thân xác đă thành sương khói cho những phi vụ không về. Ở đây, có sáng mù sương, thấy đời mệt mỏi như chiếc xe dodge già nua ́ ạch leo đầu dốc. Dù rằng tôi lúc ấy chỉ vừa hơn hai mươi tuổi.

Ngày lên Pleiku, có một bài thơ tôi đă làm như tiên đoán được cái không gian của biên tái, của những câu thơ như Lương Châu Từ của Vương Han thời Thịnh Đường xa xưa. Pleiku có khác nào Lương Châu, cũng là quan ải để trấn giữ biên cương. Ngày xưa th́ ngăn giặc Hồ, giặc Mông. Ngày nay, th́ canh chừng ba biên giới, với những trận đánh ác liệt mùa khô hàng năm tiếp diễn... Bài thơ ấy, làm vào một đêm trước khi sáng mai lên trực thăng vào phố núi.

“Ừ mai tao lên Pleiku

Đêm căm hơi đá ngày mù núi xanh

Uống say quên mộng quẩn quanh

Về nơi gió cát cũng đành cuộc chơi

Ừ mai cánh vỗ ngang trời

Ngóng thiên thu một cơi đời tịnh yên

Máu xương măi chuyện ưu phiền

C̣n đâu tiếng gọi cho em miệt mài

Ừ mai súng khoác lên vai

Ngẩn ngơ phố núi những ngày đao binh

Chắc đâu rượu uống một ḿnh

Trong thân phiêu bạc nhục vinh nửa vời

Ừ mai thương bóng trăng trôi

Chim quên vẫy mỏi cuối trời chiến tranh

Uống đi mai hát quân hành

Nghe trong hơi bốc long lanh mắt người...”

Tuổi trẻ, ngây thơ và bốc đồng. Tưởng rằng, ḿnh như một hiệp sĩ thời xưa đi vào nơi gió cát. Thơ cũng nghênh ngang kiểu “túy ngọa sa trường quân mạc tiếu, cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Tuổi trẻ, ơi những giấc mơ của ngày chân không chấm đất cật chẳng đến giời. Có phải là giấc mơ chung của những người lính trẻ chúng tôi.

Pleiku, một thành phố nhỏ heo hút ở cao nguyên, nhờ thơ và nhạc, đă thành một nơi chốn đầy thơ mộng. Thành phố ấy, có những tương phản kỳ lạ. Chiến tranh đă làm phố núi ấy có một bộ mặt, khi th́ lăng mạn thơ mộng với những tà áo dài nữ sinh đi học buổi sớm mai nhưng cũng có lúc đầy nhục dục xác thịt. Con đường từ phố đến camp Holloway đầy những quán rượu và những cô gái phấn son ḷe loẹt. Và, thành phố cũng đầy những sắc lính. Những người từ mặt trận trở về, đốt tiền mua vội một đêm vui rồi sáng mai trở lại miền gió cát. Những người lính đồn trú ở đây, ráng làm quen với cuộc sống ở vùng nắng bụi mưa śnh, trong một giây phút nào, cũng nao nao v́ những tà áo trắng buổi sáng trong sương mù Pleiku, t́m thấy một chút thơ mộng trong đời để làm kỷ niệm Pleiku, những cuộc t́nh có thực đầy dông băo của những người lính và những cô gái giang hồ. Nhưng Pleiku cũng có những êm ái thánh thiện của t́nh học tṛ áo trắng và người lính dạn dầy trong khói lửa. Pleiku có con đường đầy quán rượu cho lính G.I. viễn chinh nhưng cũng có con đường có hai hàng cây cao vút rợp bóng lá và những tà áo học tṛ tung bay theo nắng.

Người làm thơ, có lúc cũng cảm khái v́ cái không gian, thời gian của thành phố ấy. Mưa cũng là cái mưa đặc biệt, mỗi mỗi hạt mưa như chứa đựng cả những nỗi niềm của tất cả những địa phương xa lạ thu góp về. Nắng cũng là cái nắng không phải của một nơi chốn nào khác, nó mang đến cái hanh hao khó chịu nhưng cũng trong màu nắng ấy lấp lánh những t́nh cảm thầm th́ khó tả. Lạnh cũng chẳng phải là cái lạnh lẽo b́nh thường mà h́nh như cỏ cây, đường phố, núi non, ở đây cũng se ḿnh và chia sẻ chung vui buồn với con người. Trong giây phút hiếm có trong đời, cảm xúc đă làm ngôn ngữ tăng thêm lôi cuốn và tạo nhiều ấn tượng. Nguyễn Bắc Sơn, một chứng nhân của cuộc chiến, làm thơ như một cách thế sống, đă coi công việc viết như một phần của đời người. Sống ở Plei ku và viết những bài thơ để gửi Plei ku. Thơ ông, có chút cảm khái ngậm ngùi của thời tao loạn nhưng cũng có những xúc động bềnh bồng của tâm tư lăng mạn hay đùa cợt với cuộc đời. Thơ, phảng phất vóc dáng một chàng cuồng sĩ.

Đọc bài thơ “Hoa Qú Vàng Lạnh Pleiku”, tự nhiên tôi như người trở về thời gian ấy, không gian ấy. Trở về những ngày tuổi trẻ, của những giây phút bốc đồng coi mọi việc như cuộc đùa chơi. Cái lạnh, chưa hẳn là lạnh lẽo Mùa Đông, mà c̣n chứa đựng một chút nồng ấm nào đó của Mùa Hạ. Lạnh ở bên ngoài nhưng rần rần nóng hồi ở tim óc bên trong. Sương mù ban đêm trên đỉnh cao nh́n về phố buồn, tâm thức cũng ào ạt như sóng theo tầm nh́n vời vợi.

“Đứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn

Là thấy ḿnh buốt lạnh mấy ngh́n năm

V́ đêm nay trời đất lạnh căm căm

Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ

Nên phải nhớ mắt một người thiếu nữ

Đă nh́n ḿnh rất ấm một ngày xưa

Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa

Nhưng vĩnh cửu chút mơ màng thuở đó”.

Tôi cũng đă sống ở Pleiku gần ba năm. Thời gian ấy trong hơn tổng số bẩy năm ở lính của tôi chắc là đáng kể và đầy chật những điều đáng nhớ. Ngày đầu tiên khi từ Nha Trang xuống phi trường Cù Hanh là một ngày mưa u ám. Mưa sủi bọt trên mặt nhựa phi đạo và bầu trời nặng nề u ám mầu mây đen. Gió ào ạt lồng lộng ngoài kia khiến cho tôi thấy ḿnh quá nhỏ nhoi trong cái buồn mênh mang của đất trời. Lúc ấy, tôi thấy những câu thơ vẩn vơ trong óc của Kim Tuấn, Du Tử Lê, Vũ Hữu Định, Nguyễn Bắc Sơn. Thơ tự nhiên thành một phần của một ngày, một tháng, một năm, của riêng tôi. Thơ để quên đi hiện tại. Những giọt mưa quất vào mặt, buốt rát. Những ngọn gió thốc vào ngực. Nặng tê.

Đọc bài thơ dài của Nguyễn Bắc Sơn tôi chỉ thấy có hai câu nói về mầu hoa qú vàng. Thế mà cái mầu sắc hoa man dă ấy chỉ một nét thoáng qua nhưng lại gợi nhiều dư âm. Mầu vàng, có khi là mầu vàng lạnh, nhưng có khi là mầu nóng chói chang của nắng.

“Phố núi kia ơi, một đời phố lạnh.

Lạnh hoa vàng, núi đỏ, thác đèo cao.”

Hoa qú vàng, một loài hoa nhỏ, cây từa tựa giống như hoa cúc, tôi đă nh́n thấy miên man mầu vàng khi trên phi cơ nh́n xuống. Mầu vàng, mênh mang trên những ngọn dồi loang lổ mầu xám của đá và mầu đỏ của đất. Hoa qú, lẻ loi một cánh trên tay thú thực cũng chẳng hấp dẫn lắm nhưng nếu bạt ngàn dưới cánh phi cơ, rào rạt trong nắng trong gió sẽ trở thành một ấn tượng khó quên cho cảm xúc. Ơi hoa qú, mầu vàng không phải kiêu sa như mầu hoàng cúc của áo tôn nữ mà có sự gần gũi với tà áo vàng của dân dă, của thiên nhiên. Hèn chi, cũng có nhiều nhà thơ vấn vương với hoa qú vàng, như Nguyễn Xuân Thiệp, như Kim Tuấn.

Người thơ kể chuyện của ḿnh, một câu chuyện có lẽ rất quen tai của những người lính thú. Cũng đi xuống, đi lên, cũng loay hoay bồn chồn như những chàng gà trống...

“Đời lang bạt của một người lính thú

Sáng hôm qua tôi là người thiếp ngủ

Đi một ḿnh lên xuống phố mù sương

Phố núi kia ơi, phố có con đường

Lên xuống dốc t́m không ra bạn hữu

Không có bạn tôi làm sao uống rượu

Tôi làm sao sống nổi một ngày đây

Phố núi kia ơi, kẻ lạ đông đầy

Nh́n gă lính không khác ǵ gă lính”.

Không có bạn tôi làm sao uống rượu. Tôi làm sao sống nổi một ngày đây. Nghe như một câu nói thường ngày, không có chất thơ mà sao nghe tràn đầy thi tứ. Chắc lúc ấy, sự cảm khái của người thơ đă lên cao độ, và, nỗi lạnh lùng thiên cổ như bám vào da vào thịt. Có nỗi nhớ mong, có niềm tiếc nuối. Người em, bây giờ lưu lạc ở đâu?

“...Tôi vận rủi làm một người lăng đăng

Ngó mông hoài khuất bóng của người em

Sáng hôm nay đời sống thật b́nh yên

Sao phố lại đuổi đi người yểu điệu

Vườn đá tảng bàn chân em huyền diệu

In gót hồng lên lớp bụi đời tôi

Là từ khi tôi hạnh phúc rong chơi

Và quên lăng con thú mù phẫn nộ

Ôi phố núi đêm nay là cổ mộ

Một hàng đèn sáng lạnh cơi bi hoang”.

Bài thơ thứ hai tôi đọc để nhớ Pleiku là của Nguyễn Xuân Thiệp, bài “Pleiku, Tháng Ba 1974”. Ba mươi năm trôi qua, nhưng ngày tháng đó vẫn c̣n sinh động. Thơ, không ghi chép lại nhật kư ngày tháng mà sao đầy dấu viết của một quăng đời. Ngày ấy, lửa cháy đỏ. Ngày ấy.

Người thi sĩ kể chuyện một ḿnh. Đâu cần ai hiểu, chỉ để nỗi niềm loang vào sương đêm thành nỗi nhớ mịt mùng.

“Cầm bút viết, Tháng Ba rực cháy

Hàng dầu cao trong b́nh minh

Cơn sốt của trái chín và cánh đồng

Trận gió hung trưa ngày ấy

Cầm bút viết, đồi hoa quỳ vàng

Tháng Ba xuống khu rừng. Bóng quạ

Rung những nhánh cây màu tàn lửa

Tiếng thét hư không

Chiều rượt qua ngàn”

Những h́nh ảnh đan vào nhau với những liên tưởng tiếp nối. Ảnh tượng có khi như không liên quan nhau, chỉ là những nét phác sơ lược nhưng lại làm nổi bật được một không gian đầy biến động. Đồi hoa quỳ vàng, khu rừng, bóng quạ, nhánh cây màu tàn lửa, tất cả như ch́m đắm trong nỗi bàng hoàng của thế thời. Cơn băo lửa dậy lên từ hoang vu:

“Tháng Ba, chân trời chớp tía

Những chuyến xe lên đường, cơn mưa chợt đến

Rào qua mái nhà, bàng hoàng. mưa ngưng bặt

Đêm. Những căn nhà gỗ sáng đèn.

Tháng Ba. Trên đồi vông nở

Tôi trở về thị trấn Tháng Ba

Những sợi dây trời cắt đau trí nhớ

Cườm tay em nhỏ máu hè xưa”.

Xa rồi những ngày thơ mộng. Gần lắm rồi những nỗi kinh hoàng. Cái linh cảm của một cuộc địa chấn là cái linh cảm chung của những người như những con chuột đang cuống cuồng trong rọ. Thị trấn sẽ thành biển lửa, nay mai. Sẽ đầy những cuộc chia ly đầy nước mát. Thảm họa sụp xuống, như cơn hồng thủy đến.

“...Ṿ nát chiếc khăn. và đừng khóc

Chiều nay. Chớp bể mưa nguồn

Chia tay nhau. Sương phụ

Người đi râu bám bụi đường

Tháng Ba. Em. Những căn nhà gỗ

Ánh đèn khuya. Vệt máu hè xưa

Đừng tiếc chiếc khăn tay ngày ấy

Sẽ bay trong lửa hoàng hôn

Tháng Ba. Cơn giông rền mặt đất.”

Đọc xong hai bài thơ, tôi như người hụt hơi. Đời sống, như một hơi khói nhẹ, loăng bay vào hư không. Tự nhiên, thấy ḷng ḿnh chùng xuống những kỷ niệm. Những bài thơ. Thuở đă xa. Ngày c̣n trẻ. Và hoa qú vàng, cái màu vàng loang sắc nắng của buổi nào, bây giờ có c̣n vương trên núi đồi không? Cái sắc màu hỏa hoàng trong những buổi chiều nhạt nắng ấy sao nhức nhối kư ức. Thị trấn ấy, như câu thơ Vũ Hữu Định:

“Phố núi cao phố núi trời gần

Phố xá không xa nên phố t́nh thân

Đi dăm phút đă về chốn cũ

Một buổi chiều nào ḷng bỗng bâng khuâng

Em Pleiku má đỏ môi hồng

Ở đây buổi chiều quanh năm Mùa Đông

Nên mắt em ướt và tóc em ướt

Da em mềm như mây chiều trong”.

Có khi em Pleiku chỉ là tưởng tượng. Thi sĩ đă làm thành một nhân dáng nữ tuyệt vời để tô điểm cho phố núi ấm áp hơn trong cái lạnh se se Tây Nguyên. Thơ như tháp cánh vút lên, để những hàng cây dầu hai bên con đường học tṛ vươn lên mầu lá xanh hiền. Thành phố có em, là thành phố mà t́nh yêu đă làm một thứ trang sức cho đời lính thú biên trấn xa xôi. May mà c̣n có niềm vui.

Thơ về Pleiku th́ nhiều, nhiều lắm. Kim Tuấn, Diên Nghị, Du Tử Lê, Vơ Ư, Lê Bá Định, Lâm Hảo Dũng... đă trải ḷng ḿnh lên thành những rung động thật với nơi chốn mà ḿnh đă qua hoặc gắn bó. Pleiku, nhắc đến nó để nhớ lại một thời lửa đạn. Và, nếu có người sưu tập thành một tuyển tập có chủ đề về nơi chốn ấy, chắc sẽ có một quyển sách cả ngàn trang mới mong đầy đủ hết thơ văn của những người hoài vương vấn với mưa śnh nắng bụi cao nguyên.

  Trang Chủ .  Kim Âu . Lưu Trữ. Báo Chí . RFI . RFA . Tác Giả . Chính Trị . Văn Nghệ . Khoa Học . . Quảng Cáo . Mục Lục . ***