CHÍNH NGHĨA

 

   

Chính Nghĩa Tự Có Tính Thuyết Phục - Nhân Nghĩa Tự Có Tính Cảm Hoá

TA THẮP HƯƠNG L̉NG

 

 

 

 

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái

Ta thắp hương ḷng để nhớ thương

 

Sau Ngày 30 Tháng Tư 1975 tôi có hai câu Thơ

trên. Từ hai câu Thơ ấy tôi làm thành bài

 

XÓM CỎ

 

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái,

Ta thắp hương ḷng để nhớ thương.

Thôi thế Em về yên Xóm Cỏ,

Cây đời đă cỗi gốc yêu đương.

Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió,

Cho đống xương tàn được nở hương!

 

Căn nguyên Sáu Câu Thơ Xóm Cỏ Công Tử Hà Đông ở trong bài:

LƯU BIỆT

Trần Huyền Trân tặng Lê Văn Trương

 

Thôi thế anh về yên xóm cỏ

Xứ nghèo đă cỗi gốc yêu thương

Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió

Cho đống xương đời được nở hương

 

Lưu Biệt 24 câu, tôi trích 4 câu đầu. Xóm Cỏ có xuất xứ từ 4 câu Thơ đầu bài Lưu Biệt của Trần Huyền Trân, làm ở Hà Nội năm 1938. Tôi đọc Lưu Biệt những năm 1942, 1943, khi tôi là chú nhỏ 10 tuổi.

Bốn câu Thơ ấy ở măi trong tim tôi. Rồi thấm thoắt bốn mươi mùa lá rụng...

Đến những ngày đen hơn mơm chó, những đêm nhọ hơn cái Lá Đa Ca Dao, sống giở, chết giở trong ḷng thành phố thủ đô thương yêu bị đầy đọa thảm thương, tôi nhớ bốn câu Thơ Trần Huyền Trân, tôi phóng tác, thêm thắt làm thành bài Xóm Cỏ.

 

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái..! Ta thắp hương ḷng để nhớ thương..!

 

Tôi làm Xóm Cỏ trong những đêm buồn ghê khiếp những năm 1976, 1977, Ngày Oan Trái trong Xóm Cỏ là Ngày 30 Tháng Tư. EM trong “Thôi thế Em về yên Xóm Cỏ” là Tự Do, là Hạnh Phúc.

Năm năm cứ đến Ngày 30 Tháng Tư, tim tôi lại đau như bị dao cắt, gan ruột tôi xót sa như bị sát muối ớt, tôi nhớ thương đất nước đă tiêu vong của tôi, tôi nhớ những người đă chết, tôi thương những người c̣n sống.

 

Muối nào bào dạ xót sa

Dao nào cắt trái tim ta đêm ngày?

Khóc trong giấc ngủ nào hay

Tỉnh ra sao thấy gối này đẫm sương.

Anh nghe ở cuối canh trường

Tiếng Em khóc ở mười phương vọng về.

C̣n Em trong mộng, trong mê

Có nghe má lạnh tái tê giọt sầu?

Có nghe trên tóc phai mầu

Lệ anh rơi ướt nửa đầu, không Em ?

 

Và như vậy là cho đến hôm nay, một Ngày Tháng Tư năm 2006. sống an ninh với nhiều sầu muộn ở Kỳ Hoa Đất Trích, Ngày 30 Tháng Tư 1975 đă tới đời tôi, đă trở lại đời tôi, đă tới Sà́ G̣n, đă trở lại Sài G̣n.. 31 lần.

Lúc 10 giờ sáng ngày 30 Tháng Tư năm 1976, tôi chở vợ tôi trên xe đạp, đến thăm mẹ tôi ở đường Trần Quốc Toản. Đi qua trước cổng Việt Nam Quốc Tự, tôi nói với vợ tôi:

- Em có thấy như anh thấy không? Hôm nay anh thấy tất cả những người Sài G̣n ta gặp đều có vẻ ngơ ngác, như người ta sống lại ngày 30 Tháng Tư năm ngoái..

Thành phố vắng tanh, nhà nhà cửa đóng, người người âu sầu, đất trời sám sịt. Chắc không phải v́ tôi bồi hồi nhớ giờ này, ngày này năm ngoái ḿnh đang ở đâu, ḿnh đang làm ǵ, mà tôi tưởng mọi người cũng bồi hồi, cũng nhớ như tôi. Chắc không phải v́ tôi ngơ ngác mà tôi thấy những người Sài G̣n quanh tôi trong Ngày Oan Trái ấy đều ngơ ngác.

Nhưng mà.. nhớ thương, đau thương cũng có ngần thôi..!

Đă 30 lần Tháng Tư trở lại đời tôi, đă 30 lần tim tôi đau nhói. Bánh xe lăng tử sang Kỳ Hoa năm 1995, đă 10 Tháng Tư tôi viết những bài thương khóc Sài G̣n 30 Tháng Tư. Hôm nay Tháng Tư trở lại, tôi lại thương, lại nhớ, lại buồn. V́ đă buồn nhiều rồi, tôi muốn viết vài chuyện về Ngày 30 Tháng Tư không đến nỗi sầu buồn quá lắm.

Từ Ngày 30 Tháng Tư 1975 bọn Bắc Cộng kéo vào Sài G̣n, không biết là bao nhiêu người, sẽ không bao giờ biết là bao nhiêu người, chỉ biết là rất nhiều người dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Ḥa đă chết trong những ngục tù cộng sản, trong số những người dân Quốc Gia VNCH đă bị bọn Cộng sản giết chết ấy có nhiều văn nghệ sĩ; trong số những văn nghệ sĩ chết trong ngục tù cộng sản tôi được biết 3 người: Dương Hùng Cường, Nguyễn Mạnh Côn và Hiếu Chân Nguyễn Hoạt.

Dương Hùng Cường, bút hiệu Dê Húc Càn, sĩ quan, bị bọn Bắc Cộng cướp nước gọi là “ngụy quân”, đi tù khổ sai, năm 1980 trở về mái nhà xưa, Tháng 5, 1984, DH Cường bị bọn P 25, bọn công an chuyên về phản gián, bắt v́ tội viết và gửi bài viết ra nước ngoài. Tháng 5, 1985, Dương Hùng Cường cùng một số văn nghệ sĩ, những người bị bọn công an gọi là “làm gián điệp”, và “Biệt Kích Cầm Bút”, đưa từ Nhà Tù Thẩm Vấn Số 4 Phan đăng Lưu sang Nhà Tù Dài Năm Nằm Dai Chí Ḥa. Như tất cả những tù nhân chính trị chống Cộng sản thời ấy, sau thời gian khoảng 1 năm bị thẩm vấn ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn Tù Chính Trị của Bọn Công An Thành Hồ, họ bị đưa sang Nhà Tù Chí Ḥa nằm phơi rốn chờ ra ṭa hay đi trại tù khổ sai.

Giữa năm 1986, trước ngày bọn Cộng Sản Hà Nội họp cái gọi là Đại Hội Đảng Cộng Chồn Lần Thứ 6, bọn Công An Thành Hồ thanh toán một số tổ chức bị chúng gọi là “phản động, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng, gián điệp”.

Để chuẩn bị cho việc đưa nhóm “Biệt Kích Cầm Bút” ra ṭa, bọn Công An Thành Hồ chia nhóm ra làm hai, để họ không liên lạc được với nhau, không bàn luận được với nhau về thái độ họ phải có trước ṭa, không bảo được nhau sẽ nói ǵ, làm ǵ khi ra ṭa, chúng chia đôi nhóm bằng cách đưa hai người trong nhóm là Dương Hùng Cường, Doăn Quốc Sĩ từ Nhà Tù Chí Ḥa trở về Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu.

Dương Hùng Cường chết trong một xà-lim ở Nhà Tù Thẩm Vấn Số 4 Phan đăng Lưu. Cường chết trong đêm. 6 giờ sáng bọn Cai Tù đi điểm số, người tù nằm xà-lim phải đứng tḥ mặt ra cửa gió cho Cai Tù thấy.

Sáng hôm ấy không thấy người tù Dương Hùng Cường đứng ở cửa gió, tên Cai Tù nh́n qua ô cửƯa gió vào xà-lim thấy người tù nằm bất động. Mở cửa vào, người tù đă chết cứng.

Bọn Cai Tù Số 4 Phan đăng Lưu đưa xác người tù DH Cường qua Nhà Xác Nhà Tù Chí Ḥa. Tại đây bọn gọi là Y Sĩ Pháp Luật, tên tắt là bọn Pháp Y, mổ bụng, mổ óc người tù ra xem v́ sao mà chết và để học về cơ thể. Xác người tù chết nào ở Nhà Tù Chí Ḥa, Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, cũng bị chúng mổ xẻ như thế. Xong, chúng liệm xác, gọi vợ con người tù đến cho nh́n mặt, cho áo quan, cho xe nhà tù đưa lên chôn ở một nghĩa trang trên Lái Thiêu. Chúng không cho thân nhân người tù đem xác người tù về làm đám ma ở nhà. Vào năm 1979, hay 1980, chúng có cho ông Hồ Hữu Tường, bị bệnh sắp chết, từ Trại Tù Khổ Sai Xuyên Mộc, về nhà ông ở Sài G̣n. Tôi không biết chắc ông Hồ Hữu Tường về đến nhà ông mới thở hơi cuối cùng, hay ông đă từ trần ở Trại Xuyên Mộc. Chuyện tôi biết chắc là sau vụ cho Người Tù Hồ Hữu Tường sắp chết về nhà, bọn Công An Cai Tù Cộng Sản không cho một người tù chính trị nào khác được về chết ở nhà, hay cho thân nhân người tù đem xác người tù đă chết về nhà làm đám ma.

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương bị bắt Tháng Ba năm 1976. Tôi không biết ông bị giam ở đâu, chỉ biết ông không bị giam ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu như những văn nghệ sĩ bị bắt cùng trong tháng ấy. Khoảng 9, 10 tháng sau, chúng thả Thi sĩ về. Về nhà ở Khánh Hội được khoảng 6, 7 ngày Thi sĩ từ trần tại nhà.

Tôi đă mấy lần kể chuyện Dương Hùng Cường Dê Húc Càn chết trong xà-lim nhà tù cộng sản. Có lần tôi théc méc :“ Tại sao lại là Dương Hùng Cường chứ không phải là Hoàng Hải Thủy bị chết thảm trong Nhà Tù Cộng Sản? Hoàng Hải Thủy, người anh em cùng vợ với tôi, yếu kém hơn Dương Hùng Cường về nhiều mặt. Người anh em cùng vợ của tôi nhát, sợ, yếu śu, yếu sịu, rầu rĩ nỉ non, mềm như bún thiu, nhăo hơn cơm vữa, thấy khổ đến thân là sợ rúm đít..!”

Có lần viết về Dương Hùng Cường, tôi viết:

- Cùng vào Xà-lim Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu một ngày, một buổi sáng, Cường nằm lại, tôi đi ra, rồi tôi sang Mỹ. Nếu năm xưa tôi nằm lại, Cường đi ra, Cường sang Mỹ, chắc hôm nay Cường ngồi viết Cà Kê Dê Ngỗng ở Mỹ, Cường sẽ nhớ tôi, sẽ viết về tôi như tôi nhớ Cường, tôi viết về Cường.

Nhưng mà buồn quá đi thôi. Đă định thôi không buồn khổ nữa. Ba mươi năm buồn khổ, tạm đủ rồi. Có bao lâu cuộc đời? Có sáu mươi năm thôi, em ơi. Nhưng lại cứ buồn sầu. Dễ hiểu, viết về chuyện buồn đau, làm sao vui được. Thôi th́ nhớ và gượng kể vài chuyện không buồn lắm về Dê Húc Càn Dương Hùng Cường.

Đây là những lời tôi nghe Dương Hùng Cường nói:

- Tôi thù thuốc phiện, v́ thuốc phiện làm cho nhiều người bạn tôi trở thành hèn hạ!

- Đừng phê phán nó viết hay hay không hay. Nội cái việc nó làm cho mấy trang giấy trắng trở thành đầy chữ là chuyện đáng khen rồi.

Dê Húc Càn làm câu đối.

Ta có câu:

Âm hộ vô mao bần chí tử.

Dê Húc Càn đối:

Qui đầu hữu mủ phú lơ căng!

Bộ môn nghệ thuật gọi là Kịch không phát triển lắm ở Sài G̣n. Có cái gọi là Kịch Nói trên Đài Phát Thanh, trên màn ảnh TiVi, nhưng không có Kịch gọi là Kịch Sống diễn trên sân khấu. Có thể v́ Sài G̣n có sân khấu cải lương phồn thịnh quá nên cái tṛ gọi là Kịch nhạt nhẽo, không mùi mẫn, không có khách. Tuy vậy, lâu lâu Sài G̣n cũng có một, hai ban kịch tài tử, tức không chuyên nghiệp, một nhóm vài người yêu Kịch, họp lại thành ban, diễn kịch chơi vói nhau, họ diễn kịch không bán vé trên sân khấu Trường Quốc Gia Âm Nhạc, Nhà Hát Hội Việt Mỹ. Một tối trong khoảng những năm 1972, 1973, ban Kịch, h́nh như của anh Mỹ Tín, diễn kịch Giông Tố ở Trường Quốc Gia Âm Nhạc. Trong số văn nghệ sĩ đến xem Kịch có Dương Hùng Cường.

Kịch Giông Tố soạn theo tiểu thuyết Giông Tố của Vũ Trọng Phụng, một anh tên là Ngọc Hoan đóng vai Nghị Hách. Dương Hùng Cường ra vế đối:

Kép Ngọc Hoan diễn kịch Ngọc Hành.

Hoàng Hải Thủy, người anh em cùng vợ với tôi, đối:

Đào Âm Phủ mần tuồng Âm Hộ.

Tôi không nhớ được chuyện nào vui để kể về anh Nguyễn Mạnh Côn. Anh bị bắt Tháng Ba năm 1976. Sau một năm ở Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, cùng với các văn nghệ sĩ khác anh bị đưa sang Nhà Tù Chí Ḥa, rồi anh bị đưa lên Trại Tù Khổ Sai Xuyên Mộc. Cùng sống ở Trại Tù Xuyên Mộc với anh Côn những năm ấy có ông Hồ Hữu Tường, hai văn nghệ sĩ trẻ đàn em của anh Côn là Đằng Giao, Duyên Anh. Không biết tại sao anh Côn nghĩ rằng anh chỉ bị tù cải tạo có 3 năm. Năm 1979, ở Trại Tù Xuyên Mộc, anh Côn nói anh đă ở tù 3 năm, án tù của anh đă măn, anh đ̣i bọn Cai Tù thả anh. Tất nhiên là bọn Cai Tù không thả, Người Tù Nguyễn Mạnh Côn tuyệt thực phản đối. Theo đúng bài bản đối phó với tù của bọn Tầu Cộng, bọn Cai Tù Xuyên Mộc không cho anh Côn uống nước, chúng để anh chết. Đúng ra là chúng bắt anh chết.

Dương Hùng Cường chết thảm trong Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, anh Nguyễn Mạnh Côn chết thảm ở Trại Tù Khổ Sai Xuyên Mộc, anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt chết thảm trong Nhà Tù Chí Ḥa.

Năm 1984 anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt bị bắt cùng với các văn nghệ sĩ Doăn Quốc Sĩ, Dương Hùng Cường, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự, Lư Thụy Ư. Năm 1985 anh Hoạt ở Pḥng 11 Gác 3, Khu ED, Nhà Tù Chí Ḥa. Tôi ở Pḥng 10 khu ED, sát ngay pḥng anh. Vài lần ra hành lang lấy nước, tôi được thấy anh trong Pḥng 11, được nói với anh, được nghe anh nói vài câu.

Anh nói với tôi qua hàng song sắt:

- Ngày tôi đi vợ tôi nói “Ông có về với tôi th́ về, tôi đau ốm quá tôi không đi thăm ông được đâu.”

- Hôm đi, tôi dặn con gái tôi “Nhớ ngày hôm nay làm giỗ cho Bố..”

Một tối, khoảng 11 giờ, Kẻng Ngủ đă khua, Nhà Tù im lặng, chúng tôi nghe tiếng kêu:

 

 

 

 

Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn trong một buổi thuyết tŕnh về Thương Binh ở Sài G̣n năm 1960. Ông bị bọn Công An Bắc Cộng Thành Hồ bắt giam Tháng Ba năm 1976. Năm 1979 ở Trại Tù Khổ Sai Xuyên Mộc, ông nói ông đă ở hết án cải tạo 3 năm, ông đ̣i bọn Cai Tù phải để ông về..

 

 

-Báo.. cáo.. cán.. bộ.. Pḥng.. Mười.. Một,.. Khu.. Ơ.. Đê, .. có.. người.. đau nặng.. Xin.. cấp kíu!

Một lúc sau, Cai Tù xách ch́a khóa đến, cửa sắt pḥng tù lịch kịch mở, một anh tù cơng người tù đau bệnh trong Pḥng 11 xuống nơi gọi là trạm xá. Sáng hôm sau, chúng tôi được tin người tù Pḥng 11 đi cấp cứu đêm qua đă chết. Người tù ấy là anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Anh chết cô đơn trong đêm lạnh trong Nhà Tù Chí Ḥa.

Tôi thân với anh Hoạt. Quê ngoại của anh ở làng La Khê, một làng ngay cạnh thị xă Hà Đông. Những năm 1956, 1957 anh Hoạt làm nhật báo Tự Do, tôi làm nhật báo Sàig̣nmới. Tôi nghe nói trước năm 1945 có năm anh Hoạt là giáo viên Trường Tư Thục Tự Đức ở Hà Đông. Tôi học Trường Tự Đức những năm xưa ấy. Không nhớ rơ nhưng tôi nghĩ có thể năm xưa anh Hoạt từng là một trong những ông thầy giáo dậy tôi ở Trường Tự Đức, tôi làm quen, làm thân với anh.

Anh Hoạt đong thoóc, hít tô phê, nhưng anh không nghiện tuy anh rất hay đi hút. Những năm từ 1958 đến 1963, đệ tử của Cô Ba Phù Dung bị bắt, bị đối xử tàn bạo ở Sài G̣n, tôi thường theo anh Hoạt vào đong thoóc ở khu gọi là Khu Cây Da Sà. Khu này ở trên đường Phú Lâm đi Đức Ḥa, Đức Huệ. Ở một ngă ba đường chỗ ra khỏi Phú Lâm chừng ba, bốn cây số có một cây da bên đường. Một số người Nùng, người Tầu Bắc Kỳ, di cư, lập nghiệp ở khu này. V́ khu có cây da rễ cây sà xuống đất nên được gọi là Khu Cây Da Sà. Nghe nói bà Trần Lệ Xuân, bà vợ ông Ngô Đ́nh Nhu, là dân biểu quốc hội của khu này, dân trong khu toàn là người Nùng, người Tầu di cư nên khu được hưởng t́nh trạng tương đối không bị cấm đoán, bị bắt bớ nặng lắm về bốn mục ăn chơi.

Theo như tôi biết, có thể không đúng, th́ khu Cây Da Sà không thuộc tỉnh Gia Định mà thuộc tỉnh Đức Ḥa, hay tỉnh Long An. Do đó, Cảnh Sát Sài G̣n, Gia Định không phụ trách an ninh ở Khu Cây Da Sà, Cảnh Sát Đức Ḥa, Long An lại ở quá xa. Thành ra trong Khu Cây Da Sà có nhiều tiệm hút thuốc phiện, có ṣng bạc sóc đĩa mà ít khi bị bắt. Cũng có bị bắt nhưng vài năm mới có một lần. Nếu chỉ một, hai xe cảnh sát ập tới th́ chỉ bắt đưộc một hai tiệm hút, không thấm thía ǵ. Muốn tảo thanh Khu Cây Da Sà chính quyền phải mở cuộc đại bố ráp, huy động cả quân đội, bao vây cả khu, tó hết, xét hết, tịch thu hết giấy căn cước, thẻ xanh xe tự động 2 bánh, 4 bánh, xét hỏi tất cả những anh không phải là dân cư ngụ ở Khu Cây Da Sà mà loạng quạng ở trong khu đó.

Trong lúc nhiều tiệm hít tốp ở trong thành phố Sà́ G̣n bị cảnh sát ập vào bắt, người hút bị vào Nhà Tù Chí Ḥa, bị ra ṭa, có án chơi ma túy là mang án hết đời, vào Khu Cây Da Sà đệ tử Cô Ba nằm ung dung, cửa nhà mở toang, không bị giật gân, đứng tim.

Hôm nay viết ở xứ người, nhớ những tháng năm xưa, nhớ những người xưa, tôi nhớ những buổi chiều mùa mưa những năm 1960, chúng tôi vào Khu Cây Da Sà từ lúc 3, 4 giờ chiều, nằm t́nh tang đong, đấu hót thoải mái, đến tối nhờ chủ nhà cho người ra tiệm ăn Tầu ngoài Ngă Ba Cây Da, lấy cơm mang vào ăn. Tôi khoái nhất món Cơm Tay Cầm Ếch. Mùa mưa khu nhà giữa cánh đồng này có nhiều ếch. Ếch phải là thứ ếch thiên nhiên, không lớn quá, ăn nhai, nhá cả xương. Bây giờ nh́n những đùi ếch người nuôi, gọi là ếch công nghiệp, đông lạnh, bán ở những chợ thực phẩm trên nước Mỹ, thấy lớn hơn cả đùi gà mà phát ớn. Đùi ếch lớn đến như thế đâu c̣n phải là đùi ếch.

Anh Hoạt dí dỏm, nói chuyện có duyên, biết chữ Hán, dịch Liêu Trai, đọc Hồ Thích, anh hay kể chuyện vui, tôi nhớ mấy chuyện anh kể:

- Tầu nó có câu này “ Cần tiền như anh nghiện cần điếu thuốc phiện sau bữa ăn..”

- Tầu nó nói “Thằng ấy nó mượn như Lưu Bị mượn Kinh Châu.”

Tức “mượn” với ư định sẽ lấy luôn, không trả.

- Tầu nó nói “Ấu bất học, lăo hà vi..” là “Trẻ nó không chịu học, người già làm ǵ nó?”.

Người Tầu có câu “Khổng Tử bất như Nhan Hồi”, ngụ ư Khổng Tử khác Nhan Hồi. Nhan Hồi là tên một người được kể là Người Hiền thời Khổng Tử, một Á Thánh của các ông Nho Tầu, Nho Ta, hoặc “Khổng Tử không hiền bằng Nhan Hồi.” Đây là chuyện “Khổng Tử không bằng Nhan Hồi” anh Hoạt kể:

- Ở thôn kia có hai chị cùng lấy chồng học tṛ. Hai anh học tṛ quanh năm ăn cơm rau cà tương đậu nên không hứng thú chi lắm trong việc ân ái vợ chồng. Hai anh chỉ lo học, khuya ngả lưng xuống ván là ngủ, không rờ mó ǵ đến vợ.

Sáng hôm ấy găỳp nhau ở chợ, một chị mặt tươi rói, nói với chị kia:

- Có chuyện này hay lắm. Ḿnh kể cho nghe. Lâu rồi thằng chồng ḿnh nó chẳng làm ǵ ḿnh cả. Chán quá là chán. Hôm qua ḿnh nghe nói là ngày giỗ ông Nhan Hồi, ḿnh mua lạng thịt lợn, cút rượu, về làm giỗ ông Nhan Hồi. Cúng xong chồng ḿnh nó uống rượu, ăn thịt, nó khoẻ ơi là khỏe. Nó vui. Tối đến nó làm ḿnh một trận đă quáà

Chị kia nghe nói, hai mắt sáng lên. Chị trách:

- Sao biết ngày giỗ ông Nhan Hồi.. thú vị thế mà không cho ḿnh biết? Nếu biết, ḿnh cũng làm giỗ ông Nhan Hồi, có phải là đêm qua chồng ḿnh nó cũngàBây giờ tự dưng mua rượu thịt về cho chồng ăn, uống.. Kỳ quá..

Chị bạn an ủi:

- Nào ai biết đâu Nhan Hồi lại tốt đến thế. Thôi, chịu khó chờ vài ngày nữa, sắp đến ngày giỗ Khổng Tử đấy. Đến ngày ấy, ḿnh sẽ báo cho đằng ấy mua rượu thịt làm giỗ.

Ngày giỗ Khổng Tử đến, chị bạn sốt sắng làm giỗ Khổng Tử. Sáng hôm sau gặp nhau ở chợ, chị kia hỏi:

- Sao? Đêm qua.. sao? Được không?

Chị nọ ỉu śu śu:

- Chồng ḿnh nó ăn, nó uống rồi nó lăn ra nó ngủ, cả đêm nó chẳng làm ǵ cả..

Rồi chị than:

- Đúng như người ta nói, “Khổng Tử không bằng Nhan Hồi.”

Số là chị bạn tham, chị tưởng bở, chị tưởng cứ cho anh chồng ăn uống nhiều ruợu thịt là tốt, nên thay v́ chỉ cho chồng uống một cút rượu, ăn một lạng thịt, chị cho chồng chị uống nửa lít ruợu, ăn nửa cân thịt lợn. Anh học tṛ lâu không có ruợu thịt, được chầu ăn uống đă quá, ăn uống xong, anh say quá, anh lăn ra ngủ, anh chẳng ngó ngàng ǵ đến vợ.

Và từ đó Nho Tầu có câu “Khổng Tử bất như Nhan Hồi,”, Nho Ta dịch nôm là “Khổng Tử không bằng Nhan Hồi.”

Quí vị vừa đọc chuyện “Khổng Tử không bằng Nhan Hồi” tôi nghe anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt kể những năm 1960, 1961. Đây là chuyện thứ hai tôi nghe anh Hoạt nói, khoảng những năm 1981, 1982:

- Bài Thơ “Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai” đâu phải là do ông Mẫn Giác làm. Thơ của một thi sĩ đời Đường, ông Mẫn Giác ông ấy thích, ông ấy chép lại. Khi ông ấy mất, người ta t́m thấy bài thơ ấy trong số những giấy tờ của ông. Nhưng không phải là thơ của ông ấy. Bọn Tầu nó đă viết rơ chuyện ấy, có tên tác giả đàng hoàng, ở trong tập thơ nào của Tầu, ḿnh cũng nhận như thế từ lâu rồi. Vậy mà cứ đến Tết là lại lôi bài “Đ́nh tiền tạc dạ..” ợ ra, cứ bảo là thơ của ông Mẫn Giác..

Khi anh Hoạt nói về bài thơ “Đ́nh tiền tạc dạ..” tôi nghe tai nọ dọ qua tai kia. Nên tôi không nhớ tên người Thi sĩ Tầu tác giả bài thơ, tên tập Thơ Tầu trong có bài “ Đ́nh tiền tạc dạ.. “ Khi ấy tôi đâu có ngờ có ngày tôi sống buồn ở một xứ người xa quê hương tôi, xa Thủ Đô Sài G̣n của tôi hai biển lớn,, bốn vùng trời, năm mươi rặng núi, tôi sống những ngày buồn ở đó và ở đó tôi viết những chuyện hoài niệm quê hương, tiếc thương tuổi trẻ. Nếu tôi biết có ngày tôi sẽ viết về những chuyện tôi thấy, tôi nghe trong 20 mùa lá rụng tôi sống trong ḷng Sài G̣n Đau Thương, tôi đă nhớ nhiều hơn và hôm nay tôi viết được nhiều hơn, rơ hơn.

Như hôm nay, một Ngày Tháng Tư ở xứ người, buồn nhớ Ngày 30 Tháng Tư Năm 1975 - Năm ấy tôi c̣n trẻ, năm ấy tôi mới bốn mươi - tôi buồn viết bài này..

Năm năm cứ đến Ngày Oan Trái

Ta thắp hương ḷng để nhớ thương.

Thôi thế Em về yên Xóm Cỏ,

Cây đời đă cỗi gốc yêu đương.

Nhớ nhau vẩy bút làm mưa gió

Cho đống tàn xương được nở hương !

 

Rừng Phong. Xứ T́nh Nhân. Kỳ Hoa Đất Trích.

Tháng Tư 2006

CÔNG TỬ HÀ ĐÔNG