ĐÊM CHIA LY PHÚ XUÂN

 

 

 5 PNHS

 

 

 

 

 

 

Kể từ năm Ất Dậu 1558, thiên mệnh như dành sẵn xứ Thuận Hóa cho Tiên Chúa Nguyễn Hoàng, thuộc gịng họ Nguyễn làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, Thanh Hóa. Thúc dục Tiên Chúa dùng Thuận Hóa làm bàn đạp, tiếp bước cha ông, dẫn người Việt đi tiếp đoạn đường trường chinh về phương nam mở rộng cơi bờ.

Thuận Hóa dưới thời nhà Trần vốn là hai châu Ô, Lư của Chiêm Thành. Những năm đầu thế kỷ mười bốn, thời vua Trần Anh Tôn. Vua Chiêm Chế Mân thích nét đẹp yêu kiều của thiếu nữ Việt. Lại nghe đồn Huyền Trân công chúa, con Thượng Hoàng Nhân Tôn là trang quốc sắc thiên hương, Chế Mân nhân chuyến Thượng Hoàng nam du bèn đến triều kiến, khẩn khoản xin được làm con rể Thượng Hoàng, hứa dâng hai châu Ô, Lư làm sính lễ. Thượng Hoàng trở về nói với Anh Tôn:“Ta nay tu dưỡng nên tránh việc thế. Con liệu giải quyết sự việc, sao cho hai nước Việt Chiêm giao hảo, tránh can qua mà khổ lê dân”. Anh Tôn thương em không muốn thấy cảnh chia ĺa (Huyền Trân là em gái vua), nhưng trọng Thượng Hoàng nhân ái, bèn hỏi ư các đại thần. Đám văn quan vốn xem Chiêm Thành là nước man di, ư không muốn đem hạt gạo trắng ngần mà vo nước đục, mà vần lửa rơm... Riêng Thượng Tướng Trần Khắc Chung, danh tướng thao lược khuyên vua nên bằng ḷng. Chung nói:“Trải nhiều phen quan hệ giữa Chiêm và ta chẳng mấy khi tốt đẹp. Người Chiêm nhận ra khát vọng bành trướng lănh thổ về phương nam của ta, nên lúc binh đội mạnh thường t́m cách vượt biên quấy phá không cho vùng biên giới phía nam yên ổn. Thần có dịp đi ngang hai châu Ô Lư, vùng này núi non trùng điệp, như thành vách ngăn đỡ phía tây với Ai Lao. Sâu vào hướng nam núi non hùng vĩ, trên cao đụng mây, dưới biển xanh mênh mông sóng vỗ là thành vách chống đỡ mặt nam (tức Hải Vân Sơn sau này). Sông ng̣i đan nhau tiện dụng cho thủy binh, vùng đồng lầy hung hiểm sẽ là phên giậu vững chắc ngăn ngừa người Chiêm bắc tiến. Ấy là chưa kể vùng đồng bằng ph́ nhiêu chứa biết bao cây lành quả ngọt hứa hẹn ấm no. Đưa công chúa đến Chiêm Thành khác nào đem má phấn đổi lấy trường thành, đó là vùng đất trời dành, là kế lâu dài dựng nghiệp, bệ hạ minh xét”. Vua nghĩ suy cặn kẽ, cuối cùng đám cưới vương giả giữa vua Chiêm và Huyền Trân công chúa được cử hành.

Đám quan lại, binh sĩ nhận lệnh vua lên đường trấn nhậm đất mới kéo theo thành phần cư dân phức tạp, từ những nghèo khổ vùng Thanh Hóa Nghệ An đến những người phiêu lưu, đám du thử du thực từng vào tù ra khám ào ạt đi t́m vận may nơi quê hương mới. Số đông người Chiêm đau đớn nh́n cảnh đất nước bị cắt chia dâng hiến ngoại bang, ngậm ngùi xa ĺa thôn xóm, cúi lạy ngọn tháp thần linh chơ vơ, lũ lượt vượt núi băng rừng, lênh đênh trên biển đi về phương nam. Đám dân Chiêm ở lại, có kẻ nuôi hận thù dùng bạo lực chống người Việt. Số người hiền ḥa sống cam chịu nhất quyết không rời thần linh, không bỏ quê cha sống quẩn quanh gần những ngọn tháp ngày ngày phụng thờ hương khói.

Bước nam tiến của người Việt bắt đầu trở lại vào năm Tân Hợi 1611. Lợi dụng Chiêm Thành suy yếu, Tiên Chúa Nguyễn Hoàng vượt đèo Cù Mông, đánh chiếm vùng đất phía nam lập phủ Phú Yên. Người Chiêm không ngừng chia rẽ, mộng tranh cướp ngôi vương bá dẫn đến nội chiến, quên hiểm họa xâm lăng của người Việt. Tám mươi hai năm sau, trải qua năm đời các chúa Nguyễn hùng cứ phương nam, vị chúa thứ sáu Minh Vương Nguyễn Phúc Chu chiếm Phan Rang, vùng đất cuối của Chiêm Thành. Người Chiêm như chim ĺa đàn, mang nỗi hận vong quốc tha hương. Hàng vạn người qua tận Chân Lạp, hoặc đi vào chốn thâm sơn cùng cốc sống ẩn dật nhờ cây rừng chở che khỏa lấp nỗi đau. Nhiều người vẫn bám làng thôn, nhẫn nhục sống với người Việt để ngày ngày c̣n nh́n thấy những ngọn tháp rũ buồn muốn khóc. Những người dân mất nước kia, có người gửi tâm trạng trong khúc hát khắc khoải u sầu, tiếng hát năo nề xé ruột gan luẩn quẩn trong làng thôn, quấn quít quanh ngọn tháp chơ vơ mưa nắng. Có những người Việt tấm ḷng như biển, đồng cảm nỗi đau nhục nhằn trước cảnh nước mất nhà tan, thương khúc hát bi ai kia, tô điểm làn điệu Chiêm phổ vào lời ca Việt thành khúc Nam Ai thê thiết. Nam Ai cuối cùng chọn Phú Xuân làm chốn nương thân, bởi người Phú Xuân, sau này thường được gọi là người xứ Huế, với giọng nói bổng trầm đặc biệt mới có thể nói hết cái hồn của Nam Ai. Nam Ai yêu nét trang nghiêm u tịch xứ Huế, yêu gịng sông Hương hoàng hôn khói sương, đêm trăng lung linh mờ ảo nên lưu luyến chẳng rời. Nam Ai với thời gian, như cây cầu nối kết dẫn người Chiêm người Việt lại gần nhau, xoa mờ mặc cảm chiến bại, xoa dịu mối hờn vong quốc. Cuộc bể dâu dù tang thương rồi cũng mờ phai theo tháng năm, c̣n lại chăng, cái đáng trân quư chỉ là tấm ḷng giữa những con người...

***

Mùa hạ năm Mậu Ngọ 1738, Ninh Vương Nguyễn Phúc Trú từ trần. Con trai cả của chúa, Vơ Vương Nguyễn Phúc Khoát thay ngôi cha, trở thành vị chúa thứ tám của gịng họ Nguyễn. Nối tiếp truyền thống ông cha, chúa sùng đạo Phật, xưng là Từ Tế đạo nhân. Vị chúa trẻ trung mới hai mươi lăm tuổi mang ước vọng thay da đổi thịt phương nam, xứng ngôi bá chủ luôn các lân quốc như Chân Lạp Xiêm La, vượt hẳn quyền uy họ Trịnh ở phương bắc. Vừa lên ngôi, chúa họp ngay các cận thần bàn việc hệ trọng. Cận thần của chúa thường là đám văn vơ quan trẻ trung, tuổi dưới ba mươi, cùng trang lứa với chúa. Chúa thông minh thực tế, cho người trẻ năng động dám nói dám làm. Những viên quan trọng tuổi nặng nợ áo cơm, kinh nghiệm sống biến họ thành những người dè dặt đến độ sợ trách nhiệm. Chúa nói:“Ta nh́n kỹ địa đồ, thấy đất Phú Xuân đứng ở thế trung tâm, như sao Bắc Thần đứng thế cao mà các sao khác chầu vào. Đó là thế đất dựng nghiệp muôn đời không thể bỏ. Ta nên dời dinh về đấy, các khanh nghĩ thế nào?” Tham Mưu Nguyễn Cư Trinh tuổi mới ngoài hai mươi nhưng nổi tiếng hay chữ, cai trị giỏi và rất mực thanh liêm góp ư:

-Thần vốn người huyện Hương Trà nên nhận ra Phú Xuân là vùng đất tốt. Đường thủy có nhiều cửa biển hung hiểm, đường bộ bắc nam có Hoành Sơn và Hải Vân làm thành lũy. H́nh thế núi sông vững như bàn thạch, như hổ như tượng, như ngưu như long. Đó là kỳ quan trời dành cho ta dựng nên kinh đô bề thế vững chăi.

Văn quan Nguyễn Đăng Thịnh phụ họa:

-Thần nhận thấy sông Dinh (sau này gọi là sông Hương) như thanh long uốn lượn, mang hương thơm của các loài thảo mộc từ thượng nguồn, qua những thôn xóm an lành cây xanh rợp bóng, phong cảnh hữu t́nh tạo cho Phú Xuân vẻ đẹp mỹ miều. Phía đông bắc lại có Bằng Sơn dáng uy nghi cân đối. Hai bên lại có Tả Phù Hữu Bật. Gịng sông kia và ngọn núi này tạo cảnh sơn thủy hữu t́nh. Đứng trên núi Bằng vào ngày đẹp trời sẽ thấy phong cảnh toàn vùng. Từ những rừng thông xanh vi vút hát ca, đến những vùng ruộng vườn xanh tốt, xa hơn nữa là mầu xanh thẳm của vùng biển đông bát ngát mênh mông. Phú Xuân xứng đáng trung tâm văn hiến của cả vùng đất phương nam trù phú.

 

Kế hoạch dời Chính Dinh vào Phú Xuân được xúc tiến ngay. Hàng vạn quân dân xứ Quảng được điều về Phú Xuân xây dựng cung điện, đường xá, làm cầu nối đôi bờ nam bắc sông Dinh. Chúa quy hoạch vùng dành riêng cho đám quan lại. Thương gia từ nhiều nơi, nhất là đám thương gia ở Phố Hội Quảng Nam kéo về Phú Xuân lập các thương điếm. Chợ Dinh ngày càng đông đúc, tấp nập kẻ bán người mua.

Mùa xuân năm sau mọi việc ổn định, chúa cùng triều thần chuyển về Chính Dinh Phú Xuân. Chúa ngày đêm chăm lo việc nước, cải tổ nhiều điều. Quyền lực chúa Nguyễn nay bao trùm hầu hết vùng Thủy Chân Lạp. Người Việt bất chấp hiểm nguy tiến dần vào phương nam, vùng lưu vực hai sông Cửu Long và Đồng Nai. Vùng đất với những sông ng̣i chằng chịt đan nhau, rừng cổ thụ lẫn rừng thưa nối tiếp dẫy đầy ác thú. Cho dù trăm vạn hiểm nghèo bất trắc “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn. Xuống bưng sợ đỉa lên rừng sợ ma”vẫn không ngăn nổi khát vọng nam tiến của người Việt. Vùng đất mới phía nam dần dần biến thành nơi cư ngụ của bao sắc dân: Việt, Tàu, Chàm, Miên và những người thiểu số khác... Họ không cùng quá khứ nhưng cùng khát vọng chung xây dựng tương lai sáng tươi. Tất cả cùng ḥa nhịp sống chung thân ái biến miền nam thành vùng đất trù phú ph́ nhiêu, vùng đất lành nuôi dưỡng mời gọi những cánh chim lưu lạc.

Mùa xuân năm Canh Tư 1744, trong dinh có cây sung nở hoa. Chúa vui mừng cho là điềm lành, triệu tập cận thần họp bàn ư muốn xưng vương. Chúa nói:“Mấy năm nay ta điều nghiên kỹ t́nh h́nh Đàng ngoài. Kể từ khi Trịnh Giang lên nắm ngôi chúa, thực chất hắn chỉ là người ươn hèn, xa xỉ dâm dật nên trong nước biến loạn. Những người trực ngôn lên tiếng khuyên can đều bị biếm chức. Giang dùng công quỹ xây dựng chùa chiền hành cung phủ đệ tráng lệ nguy nga, dân è cổ gánh sưu cao thuế nặng. Nông dân uất ức nổi dậy nhiều nơi làm t́nh h́nh càng thêm hỗn loạn. Đám hoàng tộc nhà Lê như Duy Mật, Duy Chúc âm mưu đốt kinh thành mong lật đổ họ Trịnh nhưng thất bại chạy vào chiếm vùng thượng du Thanh Hóa. Năm Canh Thân (1740), Trịnh Doanh phải truất quyền Giang lên ngôi chúa. Doanh khá hơn Giang nhưng vẫn chưa ổn định nổi t́nh h́nh. Xét như thế th́ cái lực của Đàng trong vượt hẳn Đàng ngoài, dân ta giàu, nước ta mạnh, vùng đất ta làm chủ cũng hùng vĩ bề thế hơn. Ta nghĩ đă đến lúc nên cải đổi danh vị cho hợp với thời thế.”

Đám cận thần bàn bạc, vài ngày sau dâng biểu xin chúa định vương vị. Biểu văn ca tụng công đức chúa cao dầy xứng lên ngôi cao để thuận ư trời, hợp ḷng trăm họ khao khát.

Đầu hạ, chúa lên ngôi vương. Để tỏ rằng đây là bước khởi đầu của vận hội mới, chúa ban hành hàng loạt cải tổ, lập các bộ, thay đổi triều phục quan lại cũng như y phục dân chúng. Chính Dinh Phú Xuân đổi thành Đô Thành Phú Xuân. Để xứng danh đô thành, chúa truyền kiến trúc thêm cung điện đền đài. Nào điện Kim Hoa, gác Triêu Dương, đài Lương Xuân, đ́nh Giáng Hương... Đô thành dần trở thành chốn phồn hoa đô hội, phố chợ tiếp nối, đường phố đan nhau như bàn cờ. Trên sông Dinh thuyền bè qua lại như mắc cửi, trên bến dưới thuyền tấp nập. Giới quan lại được chúa ưu tiên cấp đất xây cất dinh thự ẩn giữa những vườn cây xanh tươi bao quanh bởi hàng rào dâm bụt tạo vẻ cổ kính trầm mặc, nét đặc sắc của Phú Xuân không nơi nào có. Các quan đua nhau làm đẹp nhà cửa, chạm khắc công phu mỹ thuật. Phú Xuân trở thành tâm điểm của giới quư tộc, tao nhân mặc khách khắp nơi tụ về đề thơ ngâm vịnh. Đám thi nhân mơ mộng không bằng ḷng với tên sông Dinh, đặt cho gịng sông tên mới. Hương Giang mỹ miều như thiếu nữ phới phới xuân t́nh ủ hương thơm hoa lá, mang chất thơ trầm lắng tô điểm đô thành. Khách đến núi Ngự vào buổi b́nh minh nắng vàng rực rỡ long lanh trên gịng sông lặng lờ uốn quanh, hoặc lúc hoàng hôn ảm đạm u tịch, cảm nhận thấm thía vẻ đẹp như thơ như họa của một góc trời Phú Xuân. Sông Hương Núi Ngự trở thành biểu tượng của chốn đế đô văn vật...

 

 

***

 

 

Đầu mùa đông, những cơn mưa thác lũ biến gịng Hương hiền ḥa thành biển sóng phù sa thịnh nộ. Những cơn mưa nhè nhẹ tiếp nối mờ đục đất trời, mưa lê thê gọi về những cơn gió lạnh tê tái. Mưa cầm chân chim muông trong tổ, cây cỏ ủ ê mà ḷng người cũng héo úa. Dù thời tiết khắc nghiệt cách mấy, hàng ngàn người vẫn lầm lũi đội mưa, chuyển gạch đá xây dựng cho xong vườn Hậu Uyển trước mùa xuân năm sau. Các viên quan đốc công luôn miệng ḥ hét, quay tít ngọn roi da thúc dục mọi người gắng sức. Những tiếng dô ḥ dô ta át tiếng mưa rơi, xua cơn gió buốt. Bao nhiêu kỳ hoa dị thảo từ nhiều nơi xa xăm được mang vào khu vườn, kể cả những cây lớn được bứng nguyên gốc cẩn thận, chăm bón kỹ sợ cây héo khô. Ai nấy thừa hiểu ư chúa là ư trời, không làm xong nhiệm vụ tất đầu ĺa khỏi cổ. Cho dù chúa mộ đạo, xưng là Từ Tế đạo nhân nhưng không có nghĩa độ lượng dung tha kẻ thừa hành sai sót. Đạo đức của kẻ cai trị khác xa với đạo đức thường t́nh thế nhân... Rất may tháng cuối năm bớt mưa, công việc xúc tiến nhanh hoàn thành Hậu Uyển trước tết chỉ độ dăm ngày. Mọi người mừng vui vừa trút gánh nặng. Chúa hả hê v́ khu vườn là món quà đầu xuân chúa tặng Trần phu nhân, người vợ được chúa sủng ái hơn tất cả mọi phu nhân khác trong hậu cung, kể cả Chính phu nhân.

Những ngày đầu xuân nắng ấm, cây cảnh được chăm bón, săn sóc bởi những bày tay khéo léo vươn ḿnh đón xuân. Chúa dẫn Trần phu nhân dạo quanh Hậu Uyển ngắm nghía những hồ nước trong xanh, nào cầu vồng nào thủy tạ khắc h́nh chim muông, tứ linh, nét khắc tinh xảo của những tay điêu khắc lừng danh từ Ngũ Hành Sơn xứ Quảng được triệu về tô điểm. Phu nhân trầm trồ ngợi khen. Chúa vui, ḷng như mở hội. Phu nhân dừng lại nh́n ngọn núi đứng giữa hồ nước xanh tượng trưng bể khơi, trên núi tạc h́nh thiếu nữ trông như tiên nga cầm cành đào, bên cạnh là văn nhân áo xanh nho nhă. Chúa nói:“Đó là tượng h́nh núi Thần Phù ở xứ Thanh, trên núi có động Bích Đào. Phong cảnh nên thơ hữu t́nh là nơi thần tiên thường ghé đến. Đời nhà Trần có người Từ Thức gặp tiên Giáng Hương cũng ở nơi này. Những h́nh tạc kia là chỉ tích ấy.”

Chỉ ḥn non bộ kỳ vĩ núi non trùng điệp gần bên, chúa nói:“Khanh biết ḥn non bộ tượng h́nh ǵ không? Rặng núi dài như chuỗi ngọc gồm mười hai ngọn nối liền là núi Trinh Tường ở phía tây bắc đất tổ. Làng Gia Miêu huyện Tống Sơn trấn Thanh Hóa. Đây là nơi an táng chúa tổ và phu nhân (Nguyễn Kim, thân phụ Tiên Chúa Nguyễn Hoàng). Ngôi mộ táng đúng hàm rồng, tương truyền cứ năm trăm năm mới mở một lần. Trời dành sẵn cho gịng họ Nguyễn báu huyệt. Khi vừa táng xong bỗng cửa huyệt khép kín. Rồi mưa to gió lớn, sấm giăng chớp giật xé trời. Mọi người kinh hăi chạy toán loạn. Lát sau trời quang mây tĩnh, mọi người tụ lại chỉ thấy núi đá liên tiếp, cây cối xanh um không c̣n nhận ra huyệt mộ nên về sau lễ vọng, con cháu chỉ hướng vào núi vái lạy mà thôi. Ta nay ở xứ này nhưng cũng có ngày quyết dành lại đất tổ”.

Trời ngả nắng, chúa và phu nhân ngồi trong thủy tạ. Bọn nội quan bày sẵn bàn tiệc gồm đủ sơn hào hải vị. Viên quan rót mỹ tửu rót trong chén ngọc dâng chúa thưởng thức. Phu nhân nể ḷng chúa chỉ uống nửa chung mỹ tửu mà đôi má đă nhuộm hồng mười phần xinh tươi duyên dáng... Chúa say đắm nh́n phu nhân, bỗng nhớ chuyện mười năm trước khi chưa kế nghiệp tiên vương, công tử Nguyễn Phúc Khoát một lần ghé ngang huyện Phong Lộc thăm dân t́nh. Có người giỏi nghề tướng số, danh nổi khắp vùng, chuyên coi nhân h́nh mà đoán hậu vận chẳng sai đến gặp công tử. Nhân nói đến nữ tướng, người thầy tướng không ngớt khen quan Khám Lư họ Trần người Phong Lộc có con gái tuổi mới đôi mươi xứng trang quốc sắc, tướng quư đáng bậc mẫu nghi thiên hạ. Thầy tướng tả:“... nàng có nước da trắng long lanh ánh trăng, mái tóc như mây, mày cong lá liễu phủ đôi mắt nhung trong như trời xanh buổi sớm. Má hồng môi thắm, miệng xinh, tươi như hoa hé nụ...” Công tử mới nghe tả sơ mà tâm can mê mẩn. Trở về Chính Dinh, công tử xin phụ vương được phép cùng nàng trăm năm kết tóc. Được phụ vương ưng thuận, công tử khẩn báo tin cho họ Trần định ngày đến nộp sính lễ. Buổi đầu tiên đến xem mắt mỹ nhân, công tử choáng váng ngây dại trước nhan sắc quá ư diễm lệ, ngàn vàng khó đổi. Công tử mừng vui, thầm cám ơn trời tặng báu vật. Ngay tháng sau, đám cưới vương giả được cử hành.

Trần phu nhân về làm dâu nhà chúa vẫn sống giản dị đạm bạc, khéo xếp việc nhà lại giỏi chiều chồng nên được công tử hết mực thương yêu. Khi công tử Khoát lên ngôi chúa, cái t́nh của chúa với phu nhân vẫn nồng thắm như thuở ban đầu... Chúa âu yếm mời phu nhân cùng uống chung rượu quư. Đêm khuya trăng tàn, chúa vui uống tràn quá chén. Đích thân phu nhân d́u chúa vào hậu cung. Hôm sau khi chúa vừa thức giấc, phu nhân tự tay pha mời chúa thưởng trà. Thấy dáng phu nhân mỏi mệt, chúa truyền nội giám thỉnh ngay ngự y Phúc Lư vào nội cung chẩn bệnh cho vợ.

Ngự y Phúc Lư người Tây Dương (tên thật Koeffler), là giáo sĩ đạo Gia Tô nhưng được chúa trân trọng do tính nhân ái, lại giỏi về y học, thiên văn, nói rành tiếng Việt. Phu nhân hay ốm vặt, không hợp với thuốc của các quan ngự y trong triều mà chỉ chịu thuốc của giáo sĩ Phúc Lư. Chúa chiều ư vợ mời giáo sĩ làm ngự y, Phúc Lư vui vẻ nhận lời. Thâm tâm giáo sĩ muốn lấy ḷng chúa hầu dễ dàng truyền đạo Gia Tô ở Phú Xuân và nhiều nơi khác. Chúa thường nói với quần thần, khen người Tây Dương giỏi kỹ thuật chế tàu chiến, súng đạn, đoán trước gió mưa băo tố... nên cần gần họ để học cái hay. Quần thần nhiều kẻ bất đồng nhưng lặng thinh. Họ chê người Tây Dương kiêu ngạo hợm hĩnh không hợp lễ giáo người Việt. Phu nhân quư mến giáo sĩ, chỉ có ông là người duy nhất được phép vào hậu cung do phép tắc nhà chúa đặt rất nghiêm khắc. Phu nhân thán phục sự hy sinh và tấm ḷng cao cả của các giáo sĩ, chấp nhận đời sống tu hành không vợ con, lại bỏ nước tha hương bất chấp hiểm nguy, chuyên tâm rao giảng tin mừng, kêu gọi con người thờ phụng, sống theo lời chúa. Giáo sĩ khôn ngoan khéo chiều ư chúa lẫn phu nhân, những mong hồng ân Thiên Chúa soi sáng, mở ḷng cho họ nhận biết nước chúa. Có lần giáo sĩ gợi ư xa vời, phu nhân tinh ư hiểu ra, nói:

-Đạo của ngài dạy con người làm lành tránh dữ khác chi đạo Phật ta tôn thờ. Nhưng luật đạo quá nghiêm chỉ cho phép đàn ông một vợ, lại không chịu cho bổn đạo thờ cúng tổ tiên nên trái với nghi lễ tập tục nước ta. Chúa thượng quen có nhiều vợ nhưng vẫn bao dung cho phép các ngài tự do truyền đạo chẳng là ưu đăi lắm sao? Ngài hẳn nhớ các tiên chúa đă từng nghiêm khắc cấm đạo, ngay cả vua Tàu cũng chẳng dung đạo ngài.

Giáo sĩ ôn tồn:

-Đa tạ chúa thượng và phu nhân rộng lượng. Chúng tôi nào dám bội bạc, hằng ngày vẫn cầu ân trên che chở chúa thượng và phu nhân, cầu cho dân ngài sống thịnh vượng ấm no hạnh phúc. Với chúng tôi chỉ có nước chúa là vĩnh cửu, chúng tôi yêu thương mọi người như ḿnh để mai sau được về hưởng phúc trên nước chúa. Được lăi cả thế gian mà mất thiên đàng nào có ích chi?

-Nước thiên đàng của ngài ở đâu. Có ai trên đời thấy được nước ấy?

-Những ai có đức tin sẽ tin lời chúa. Chúa chúng tôi dậy:Phúc cho những ai không thấy mà tin.

Giáo sĩ biết khó thuyết phục nhà chúa cũng như giới quư tộc quen hưởng thụ, thích có nhiều thê thiếp nên có câu “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng”. Ông chỉ mong duy tŕ măi t́nh trạng giao hảo tốt đẹp giữa người Việt và người da trắng. Nhưng mọi sự không tốt đẹp măi như ông hằng cầu mong, công cuộc truyền giáo đang tốt đẹp bỗng đất bằng nổi sóng, nguyên do lại quá giản dị do sự vụng về tham lam, thiển cận và kiêu ngạo của viên chức đại diện triều đ́nh Pháp tên là Lă Pha (Le Poivre).

Lă Pha từng du lịch qua nhiều xứ Viễn Đông. Đến Đàng trong, Lă Pha nhận xét cảng Hội An là nơi buôn bán phồn thịnh, rất đông người Tàu, người Nhật lập thương điếm nhưng sự giao thương giữa người Việt và người da trắng c̣n nhiều hạn chế. Triều đ́nh Pháp cử Lă Pha đến Đàng trong, tŕnh bày với chúa Nguyễn việc mở thương quán, ư muốn dành độc quyền mua nguồn hương liệu quư như quế, tiêu, trầm hương... đang do người Ḥa Lan nắm giữ. Lă Pha đến cửa Hàn rồi ra Phú Xuân xin yết kiến chúa, tặng chúa nhiều phẩm vật, tŕnh chúa nhiều mặt hàng khác như đồ gốm, giấy, các loại nỉ nhung quư... như một cách rao bán. Số hàng bán nhiều mà tiền thu ít. Lă Pha tức giận phải chờ đợi ṛng mấy tháng, lúc chán nản muốn trở về Pháp lại không mua được các mặt hàng tốt theo ư muốn. Lă Pha than phiền với nhân viên trong đoàn, cho Đàng trong là nước được cai trị bởi tập đoàn xấu xa, tham lam và ngu dốt. Vậy muốn dành độc quyền buôn bán với nước ấy phải có sức mạnh, phải cần bạo lực...

Những lời nói của Lă Pha cuối cùng đến tai chúa. Chúa tin là thật v́ đă xẩy ra nhiều trường hợp người Tây Dương xích mích, nhục mạ người Việt. Đám cận thần không ưa người Tây Dương làm biểu văn tâu chúa đ̣i tuyệt giao với người da trắng. Thỉnh cầu chúa triệt đạo Gia Tô, đạo này xét cho cùng là tà đạo nhằm lừa bịp những người dân ngu, nhẹ dạ cả tin. Cái mối nguy lớn nhất là các giáo sĩ lợi dụng truyền đạo nhưng mục đích chính là mở đường cho người Tây Dương xâm lược.... Sau vài ngày suy nghĩ, chúa truyền cấm đạo, trục xuất hết các giáo sĩ trừ Phúc Lư được xem như ngự y. Kế hoạch được thi hành triệt để bí mật.

Giáo sĩ Phúc Lư cư ngụ trong căn nhà nhỏ trong khuôn viên nhà thờ Phường Đúc. Công việc thường lệ của ông là hành lễ mỗi sáng sớm vào khoảng đầu giờ dần. Cả ngày ông chuyên chú nghiên cứu y dược và học thêm tiếng Việt để dậy giáo lư cho tân ṭng. Buổi sáng hôm ấy ông dậy sớm nhưng chờ măi không thấy người bơ già kéo chuông lễ. Ông khoác áo định sang nhà thờ xem động tĩnh. Vừa vào khu nhà thờ, ông nh́n thấy con đường dẫn đến nhà thờ đầy quân sĩ gươm giáo tuốt trần đứng án ngữ. Vừa thấy ông, viên quan chỉ huy đến cúi chào, ra lệnh ông trở về nhà. Ông hỏi tại sao, viên quan lạnh lùng đáp y chỉ biết thi hành theo lệnh thượng cấp. Biết có biến, giáo sĩ đành trở về chờ xem sự thể. Luôn một tuần lễ, ông bị giam lỏng trong nhà. Đôi lần gặp viên quan, ông xin được vào yết kiến chúa thượng nhưng luôn bị từ chối. Khu nhà thờ vắng lặng thiếu bóng giáo dân, ḷng ông rối như tơ, chỉ biết cầu nguyện. Ông đoán nhà chúa đă đổi thái độ với đạo Gia Tô nhưng không rơ số phận các giáo sĩ cũng như giáo dân. Với ông, họ vẫn đối xử tốt, cứ vài ngày viên quan cho quân mang thực phẩm đến cho ông tự nấu nướng lấy. Hai tháng sau, buổi sáng cuối xuân năm Canh Ngọ 1750, giáo sĩ đang thơ thẩn ngoài vườn bỗng thấy viên quan mời ông vào gặp chúa thượng. Ông mừng rỡ thay vội quần áo lên ngựa theo viên quan vào cung. Thấy chúa đứng ngay cửa hậu cung, ông cung kính vái chào. Chúa nói:“V́ quyền lợi của đất nước, ta không thể để các giáo sĩ tiếp tục truyền đạo”. Chúa cho biết các giáo sĩ đều đă bị đưa ra khỏi nước, giáo dân không bị trừng phạt nhưng bị buộc bỏ đạo. Giáo sĩ nói:

-Thưa chúa thượng, đă mấy tháng tôi bị quản thúc tại nhà, chẳng được hành lễ do giáo dân bị cấm, ḷng vẫn tự hỏi đạo chúng tôi nào có chi sai trái?

Chúa nói:

-Đạo của ông ngược với phong tục tập quán nước ta. Lễ giáo dạy con người uống nước nhớ nguồn, phải thờ cúng tổ tiên th́ đạo ông ngăn cấm. Các ông nói truyền đạo nhưng thực sự đến dọ thám mở lối xâm lược. Nước Xiêm La đă từng là nạn nhân của người Tây Dương, ông há chẳng thấy.

Giáo sĩ thừa hiểu với chúa không bao giờ nên tranh luận mà chỉ phục tùng, hỏi:

-Chúa đuổi hết giáo sĩ, sao lại dung tôi?

-V́ ta coi ông là ngự y của phu nhân, ta chỉ muốn ông làm việc ấy. Ông thuận chăng?

-Tôi lấy đức bác ái làm đầu, yêu thương con người như yêu chính ḿnh. Tôi cảm tạ chúa thượng và phu nhân ưu ái. Thưa chúa thượng, sức khỏe phu nhân có khả quan?

-Bởi lẽ ấy nên ta triệu ông. Phu nhân không khỏe, thường ốm vặt, biếng ăn mất ngủ.

Chúa nói xong bỏ vào trong, viên nội quan bước ra mời giáo sĩ qua pḥng bên. Giáo sĩ bước vào đă thấy phu nhân ngồi chờ sẵn. Bà ra dấu mời ông ngồi:

-Ngài vẫn mạnh?

Giáo sĩ từ tốn:

-Cảm tạ phu nhân, tôi vẫn khỏe nhưng ḷng chẳng vui.

-Ta biết mọi chuyện nhưng không ai dám can chúa thượng. Mong rằng sự khó chóng qua.

-Tôi cũng nghĩ thế. Bấy nay phu nhân thấy trong người ra sao?

-Ta thấy người thường hâm hấp nóng vào mỗi chiều, biếng ăn khó ngủ. Nhiều đêm trằn trọc đến canh tư mới thiu thiu. Tháng trước chúa thượng cho ngự y đến chẩn bệnh, y nói do chân hỏa vượng cho uống giải nhiệt nhưng thuốc men hàng tháng chẳng bớt.

Giáo sĩ nh́n sắc diện phu nhân, nước da xanh tái, mắt sâu mỏi mệt, môi thâm khô chứng tỏ bệnh nhuốm đă lâu. Phu nhân nói:“Xưa chị ta cũng bệnh như ta, chỉ vài tháng là mất”. Giáo sĩ nh́n phu nhân, nét buồn vương vấn trong đôi mắt sâu thẳm. Ông bỗng dưng ái ngại, đoán phu nhân mang bệnh nội thương trầm trọng, căn bệnh do di truyền có thể đă vượt khả năng của ông. Ông bắt mạch, cho phu nhân uống liều thuốc hạ nhiệt, khuyên bà nên tĩnh dưỡng, tránh buồn phiền lo lắng... Từ đấy, hàng tuần giáo sĩ lại vào thăm bệnh phu nhân. Càng thăm bệnh càng thất vọng, phu nhân cứ yếu dần như cây khô nhựa sống. Giáo sĩ muốn tỏ thật cho chúa và phu nhân biết ḿnh đă hết khả năng nhưng ngại ngần chưa biết thưa thốt thế nào... Phu nhân nh́n ánh mắt người thầy thuốc, lại thấy sức khỏe cứ tàn lụi dần, cử động mệt mỏi khó khăn, thuốc uống vào như nước lă. Bà linh cảm số phận ḿnh đă an bài, kiếp người có sinh có tử, nên b́nh tĩnh chấp nhận là hơn.

Tháng bảy năm ấy mưa nhiều, mưa sụt sùi khóc vợ chồng Ngâu xum họp rồi ĺa xa. Mưa lê thê ngày nọ ngày kia mù trời ảm đạm. Một chiều mưa, phu nhân đang nằm vùi bỗng trở dậy, truyền cung nữ đem phấn son trang điểm, lại thay quần áo mới bằng lụa hồng, mầu hồng chúa vẫn yêu. Đám cung nữ phục dịch tưởng phu nhân đă khỏe. Lát sau chúa đến, thấy phu nhân trang điểm xinh đẹp, chúa tươi cười mừng vui, nghĩ phu nhân dần hồi phục. Mấy tháng phu nhân ốm đau, hàng ngày chúa vẫn đến ân cần tṛ chuyện săn sóc. Chúa ngồi bên vợ hồi lâu, phu nhân cảm động rưng lệ như muốn nói mà thốt chẳng nên lời. Trời chiều âm u, chúa rời phu nhân đến thư pḥng bàn việc triều chính khẩn. Ánh mắt phu nhân như van nài chúa lưu lại... Trời tối sẫm, đám cận thần ra về chỉ c̣n ḿnh chúa ngồi lại thư pḥng. Bỗng viên thái giám tất tả chạy vào báo tin phu nhân mệnh vong. Chúa thấy trời đất quay cuồng,hét lên một tiếng ngă nhào bất tỉnh...

Tin phu nhân mất loan truyền nhanh, vương tộc Nguyễn tụ tập cả ở hậu cung. Đám ngự y đă cứu chúa lai tỉnh, dâng chúa uống xong tách trà sâm. Chúa uống xong thẩn thờ bước sang pḥng phu nhân, chẳng thèm nh́n đám gia tộc đang tụ tập trong hành lang bàn tán chuyện tṛ. Chúa vừa bước vào pḥng, hai công tử đang đứng bên giường mẹ thấy cha bỗng khóc rống. Phu nhân nằm như yên ngủ, hai tay để trên ngực. Chúa nghẹn ngào... Phu nhân ra đi lặng lẽ không lời trăn trối. Đám cung nữ kể tối ấy, sau khi chúa rời pḥng, phu nhân buông màn nằm nghỉ. Lát sau cung nữ vào mời phu nhân dùng cơm mới hay bà đă ra đi.

Đêm ấy chúa không ngủ, lặng ngồi bên xác vợ. Đám thái giám cung nữ đứng chầu chực bên ngoài. Tất cả lặng yên, nghiêm trọng sợ làm chúa kinh động. Không ai ngu dám đùa với mạng sống. Chúa không ngủ nên không ai dám đi ngủ. Đêm tĩnh lặng nặng nề, tiếng muỗi vo ve... Khoảng nửa đêm, chúa truyền viên thái giám mang đến bầu rượu...

Sáng hôm sau, trời mờ sáng. Quần thần tụ tập ở chính điện chờ chúa thiết triều. Cả đô thành Phú Xuân biết tin Trần phu nhân, người vợ được chúa sủng ái nhất vừa từ trần đêm trước. Đám quan lại lác đác có kẻ đeo khăn tang, túm năm tụm ba bàn tán. Đám vơ tướng tỏ ra ngờ vực giáo sĩ Phúc Lư, cho người da trắng tráo trở khó tin không nên giao thiệp gần gũi, có khi mang họa vào thân. Trời hừng sáng, quần thần ổn định vị trí. Chúa từ nội điện bước ra, vẻ mệt mỏi ủ dột ngồi tựa trên ngai. Quan Lễ Bộ tâu chúa việc lo tang lễ. Chúa nói chưa vội, truyền khẩn cấp cử người vào Phố Hội triệu danh y người Tàu giỏi thuật ướp thi hài về đô thành. Chúa gọi quan Chưởng Dinh, đanh thép:“Ngươi đến bắt ngay Phúc Lư , đưa hắn đến Cửa Hàn, lệnh xuống tàu rời khỏi nước, việc khẩn chớ chần chờ”. Nói xong truyền băi triều.

Trong nội cung, đám thái giám cung nữ luẩn quẩn quanh pḥng phu nhân không dám rời bước. Giờ ăn cũng chia toán, thay phiên nhau ăn xong lại tụ về, lầm lũi lặng yên, giờ ngủ cũng vậy. Tất cả đều sợ vắng mặt lúc chúa cần sai việc có thể lĩnh đủ tai họa. Hôm sau, hàng trăm thợ khéo ở đô thành được gọi vào làm gấp căn pḥng lớn ngay trong Hậu Uyển. Căn nhà mái ngói, kèo cột cửa chính phụ chạm khắc cầu kỳ. Bàn thờ hương án đầy đủ. Đám thợ khác thực hiện quan tài nắp đậy bằng tấm kính lớn. Ai nấy đều hiểu chúa dành căn nhà làm chỗ đặt thi hài phu nhân. Việc giữ thi hài dài lâu do danh y người Tàu thực hiện hơn nửa tháng mới xong. Từ đấy, đám cung nữ, thái giám ngày ngày thay phiên lo hương khói cúng quả. Ngày vọng ngày sóc lại có các vị sư đến tụng kinh siêu độ. Đôi ngày chúa lại đến ngồi bên quan tài, u buồn nh́n thi hài người vợ yêu qua tấm kính... Vua chúa yêu thương buồn vui cũng khác người thường.

Thu qua đông tàn... Một năm trôi qua. Người dân đô thành trước thường bàn tán chuyện vị chúa đa t́nh, chuyện đêm đêm bóng ma thiếu phụ áo trắng mờ mờ sương khói thơ thẩn trong Hậu Uyển... nay dường như cũng lăng quên dần. Riêng đám thái giám cung nữ vẫn khổ cực v́ cái xác chết nhưng ngậm tăm, hàng ngày quẩn quanh lo hương khói với bộ mặt cố t́nh tạo vẻ rầu rĩ thảm sầu. Uy quyền tuyệt đối của vua chúa làm mất sức đề kháng của bề tôi đă quen nhẫn nhục cam chịu.

Cuối tháng bảy chúa gặp gỡ quần thần, truyền Chưởng Dinh tuyển hàng trăm thợ nề giỏi ở đô thành chuẩn bị xây lăng mộ. Địa điểm được chọn là vuông đất bằng trên ngọn đồi thấp thuộc xă Dương Xuân. Họa đồ ngôi mộ thiết kế khá lớn gồm hai ṿng thành có cổng vào, giữa là nấm mộ. Cách ṿng ngoài vài trượng có nhà bia. Lại truyền các quan trong viện Hàn Lâm họp nhausoạn thuật lại ngôn hạnh phu nhân lúc b́nh sinh để khắc vào bia đá. Bài văn bia gần chín trăm chữ, mở đầu bằng câu: Việt cố quư tần tặng Chiêu Nghi Từ Mẫn Trần liệt phu nhân chi mộ (Mộ bà Trần phu nhân là quư tần cũ nước Việt tặng Chiêu Nghi thụy Từ Mẫn). Văn bia nay vẫn c̣n, lời văn bi thiết, người đời đọc phải ngậm ngùi thương cảm...” Hỡi ơi, trăng thu sáng bị mây che phủ, chồi xuân lan vừa hé vội tàn. Trời thẳm xanh có thấu, mỹ nhân châu ch́m ngọc nát, quế héo hoa rơi đi chẳng trở về!...”

Dân đô thành lại bắt đầu đồn đại, rằng thi thể phu nhân biến dạng buộc chúa phải chôn, rằng có thày địa lư tài giỏi chỉ cho chúa phúc địa... Vui mừng nhất vẫn là đám người phục dịch trong hậu cung. Đúng ngày đầu tháng mười một năm ấy, năm Tân Mùi 1751, lễ an táng Trần phu nhân long trọng cử hành. Quan Chưởng Dinh muốn lấy ḷng chúa, ngầm sai thủ hạ bảo dân buộc khăn tang ngoài ngơ, trên hàng cây hai bên đường dẫn đến mộ huyệt. Đô thành Phú Xuân trắng màu tang...

Từ ngày an táng phu nhân, Phụ Chính đại thần Trương Phúc Loan như thấu hiểu nỗi đau luôn ra sức nghĩ suy làm đẹp ḷng chúa. Loan cho thủ hạ đi khắp nơi tuyển những đào hát danh tiếng hàng đêm ca hát diễn tuồng tích cho chúa khuây nỗi buồn. Loan thường nói với quần thần:“Chúa thượng tin yêu giao ta trọng trách, phải cố làm sao để người vui tươi, bảo vệ ḿnh vàng giữ yên xă tắc, cai quản trăm họ”. Có người biết câu nói của Loan chỉ cốt lấy ḷng chúa, kín đáo cười mỉm lặng thinh. Ngay cả dân đô thành, ngoài các dinh ai cũng biết giây liên lạc mật thiết gịng tộc giữa quan Phụ Chính với nhà chúa. Phúc Loan là em ruột Trương nguyên phi, thân mẫu của chúa, nên quan hệ với chúa là cậu ruột. Gịng họ Trương nhiều đời có những bề tôi lương đống, rường cột bảo vệ cơi bờ Đàng trong nên được các chúa phong thưởng hậu hĩ. Đến đời Phúc Loan, dù chỉ là kẻ tầm thường văn vơ chẳng hơn người vẫn được trọng dụng phong chức tước lớn chỉ v́ có người chị ruột được tiến cung. Loan bản chất tham lam vô độ chỉ biết có tiền, bất cần liêm sỉ. Lợi dụng quyền phụ chính, Loan thường sai đám thủ hạ sách nhiễu đám thương nhân buộc phải hối lộ, biếu xén quà cáp... Ước muốn duy nhất của Loan là làm sao tóm thu các mối lợi kinh doanh nhưng c̣n e dè phép nước. Nhiều năm gần gũi, Phúc Loan biết tính chúa kỹ lưỡng bạc tiền, thường xuyên kiểm tra việc thu chi thuế má. Chúa sợ công quỹ thất thoát nên cương quyết bài trừ tham quan ô lại. Chúa thường dặn các quan:“Thuộc lại gian tham sách nhiễu gây cho dân thống khổ, phải xét trị thanh trừng nghiêm khắc”.

Một hôm Loan gặp Thái Giám Chữ Đức, tay chân của Loan, cũng là người thân tín thường xuyên gần gũi hầu hạ chúa từ ngày chúa lên ngôi báu. Loan hỏi:

-Bấy lâu ta mang nhiều đào hát về, hàng đêm ca múa, bọn ca kỷ có làm chúa thượng vui?

Chữ Đức cung kính:

-Bẩm tướng công, chúa thượng chỉ vui phần nào. Ngài chê đào hát nhiều đứa lớn tuổi, lại có chồng con nên dù hát hay múa dẻo nhưng kém bề hấp dẫn. Vẻ đẹp chỉ nhờ son phấn giả tạo. Nhiều đêm hạ quan t́m cách nói xa gần, ư chúa thượng vừa mắt ai, hạ quan sẵn sàng bảo nó hầu hạ nhưng chúa thượng vẫn lơ là. Có đêm ngài ngự ở cung nguyên phi, có đêm uống rượu say ngự ngay trong hậu cung.

Phúc Loan trầm ngâm suy tính:

-Ta biết chúa thượng đắm sắc vẫn nhớ Trần phu nhân. Dĩ độc trị độc, làm sao ta t́m được trang giai nhân tuyệt sắc tiến cung, nhất định chúa sẽ vui vẻ quên sầu. Lúc đó ngươi càng được chúa yêu v́, công danh ta có cơ thăng tiến. Ngươi nên nhớ chức phận càng cao, bổng lộc càng nhiều. Ngươi biết chốn đô thành có ai xứng danh ngọc nữ?

-Hạ quan suốt ngày du dú trong cung, thân thể khiếm khuyết chẳng vướng nợ đời nên màng chi nữ sắc. Nói vậy nhưng tướng công yên tâm, hạ quan sẽ nghĩ cách.

Ngay hôm sau, Chữ Đức sai đám thủ hạ đi khắp hang cùng ngơ hẻm đô thành, la cà chốn trà đ́nh tửu điếm dọ hỏi nhà nào có con gái đẹp. Phần Phúc Loan cũng sai thân tín đi các phủ tuyển đào hát mới. Loan nói:“Chúng bay chẳng cần chi hát hay múa dẻo, hát không hay luyện măi cũng thành hay. Múa vụng luyện măi cũng thành dẻo. Chỉ cần gái chưa chồng, nhan sắc, thân thể đẫy đà mông nở vú to”. Chỉ non nửa tuần trăng, Phụ Chính Trương Phúc Loan đă tuyển được vài chục cô gái nhan sắc lập đội nữ nhạc. Những cô gái trẻ xinh đẹp từ thành đến quê mang thân cá chậu chim lồng, ngơ ngác giữa chốn cung vàng điện ngọc. Hàng ngày các cô phải thức dậy từ sáng sớm, ra sức tập luyện lời ca tiếng nhạc cùng là múa may, măi đến tàn nắng mới được nghỉ ngơi ăn uống, bồi dưỡng sức lực để hôm sau tiếp tục như thế... Phúc Loan vẫn lo lắng v́ vẫn chưa t́m được trang giai nhân mơ ước, luôn thúc dục Chữ Đức ra công kiếm t́m, kèm những lời hăm dọa nếu việc không thành. Chữ Đức mặt như chàm đổ, sợ toát mồ hôi v́ biết quan Phụ Chính chẳng bao giờ đùa dỡn. Chữ Đức ăn chay nằm đất, ngày ngày dâng hương niệm phật độ tŕ cho việc chóng thành. Vài ngày sau, được thủ hạ báo tin t́m được giai nhân, Chữ Đức mừng hơn bắt được vàng, tức tốc lên ngựa đến phủ Phụ Chính. Đức bẩm:

-Bẩm tướng công, hạ quan đă t́m ra ngay chốn đô thành có giai nhân xứng trang quốc sắc, trầm ngư lạc nhạn, nguyệt thẹn hoa nhường... nhưng, nhưng có trở ngại.

Phúc Loan quắc mắt:

-Sao lại trở ngại, mà trở ngại chi? Ngươi không biết ư chúa thượng là ư trời, ngài thừa mệnh trời trị trăm họ.

-Bẩm tướng công, hạ quan nói có trở ngại bởi trang giai nhân, nàng là tiểu thư Nguyễn Phúc Ngọc Cầu, con gái út của Điền Quốc Công. Chúa thượng với nàng là anh em đồng đường.

Phúc Loan chợt nhớ Quốc Công Nguyễn Phúc Điền là chú ruột của chúa, Điền đă qua đời, để lại dinh cơ đồ sộ gần chợ Dinh. Biết vậy nhưng Loan vẫn ra uy quát mắng:“Ta chỉ muốn đưa nàng vào cung múa hát giải khuây cho chúa, cớ chi ngươi rắc rối nhắc chuyện đồng đường đồng sá?” Nói xong cho Chữ Đức về cung, hẹn sáng sớm đến phủ nhận lệnh.

Đêm ấy Phúc Loan trằn trọc nghĩ suy, chúa háo sắc nhưng với cô em chung họ máu? Phúc Loan biết tính chúa cương quyết, đă muốn là phải được. C̣ợn ḿnh không bao giờ bỏ qua mộng triệu phú, đời phải lắm của nhiều tiền, có tiền mua được cả tiên, phải được chúa tín cẩn th́ mộng lớn mới thành. Phúc Loan quyết định đưa Ngọc Cầu vào cung, nhưng trước hết phải gặp mặt xem nàng có thật sự tuyệt sắc.

Sáng sớm Chữ Đức đến phủ, Phúc Loan hỏi:

-Ta tạm tin là Ngọc Cầu nhan sắc. Nàng hiện ở với ai?

-Bẩm tướng công, hiện nàng ở cùng hai người anh là Phúc Viên và Phúc Nghiễm. Cả hai làm việc ở các bộ, nghe đâu đều không khá giả bởi Viên mê bài bạc, c̣n Nghiễm mê gái và rượu.

-Ngay hôm nay ngươi đưa nàng đến gặp ta, nhớ mang kiệu son và binh hộ tống.

Chữ Đức ngần ngừ:

-Hạ quan nghĩ nàng thuộc vương tộc, ta phải tỏ ra lễ nghĩa. Làm sao thuyết phục hai anh nàng thuận ư, nàng mới được phép rời nhà.

-Ngươi không biết làm cách nào được việc sao?

-Hạ quan nhận lệnh tướng công chẳng dám lơ là, lại nghĩ việc muốn thành phải có tướng công trợ giúp. Ư hạ quan muốn bẩm tướng công hứa hẹn sẽ thăng cấp chức, ban bổng lộc. Cụ thể ban thưởng ngay món tiền hậu, chắc chắn họ mừng vui v́ hiện sống chẳng khá giả.

Phúc Loan bĩu môi:

-Tiền, tiền ư. Đồng tiền liền khúc ruột, cứ động tí lại là tiền. Của giả ta bao lăm, cứ chi ra mà nguồn thu không có c̣n đâu vốn liếng?

Chữ Đức phân bua:

-Tướng công muốn mưu đại sự sá chi chuyện nhỏ. Cho họ tí tiền khác nào chơi nước cờ thí tốt hăm xa.

Phúc Loan cả cười khen Chữ Đức mưu trí, bước vào hiên sau bàn chuyện với phu nhân. Nói măi phu nhân mới chịu mở rương trao Chữ Đức hai trăm quan tiền và chục nén vàng...

Chữ Đức hăm hở ra đi. Ngay buổi xế tiểu thư Ngọc Cầu đă có mặt tại phủ Phụ Chính. Phúc Loan mừng rỡ trước vẻ đẹp lộng lẫy khiêu gợi của cô gái, nghĩ gỗ đá thấy nàng cũng động t́nh. Trương phu nhân vừa gặp, đon đả nắm tay Ngọc Cầu dắt vào nhà trong. Phu nhân ngọt ngào:

-Ta nghe danh con sắc nước hương trời, nên xin các công tử cho phép con tạm ở với ta, học thêm ca múa có dịp vào cung giúp vui chúa thượng. Con đă đẹp, lại múa hay hát giỏi tất ngài rộng lượng ban bổng lộc, thiếu chi châu báu ngọc ngà.

Ngọc Cầu bấy lâu côi cút, nghe phu nhân ân cần nhỏ nhẹ, lại nhắc ngọc ngà châu báu nên vui mừng an tâm. Bao năm sống với ngươi anh mê cờ bạc túng thiếu, Ngọc Cầu tuy mang tiếng vương tộc nhưng sống thiếu thốn mọi bề, ăn mặc đơn sơ như thứ dân, chỉ mong ṿng xuyến đeo tay cũng chẳng có, nhiều lúc tủi phận khóc thầm. Được rời khỏi người anh khác chi rời nơi tù hăm tối tăm. Đối với chúa, tuy mang tiếng anh em nhưng thật sự xa cách. Ngọc Cầu chỉ gặp anh đôi lần trong dịp tết, hồi chúa c̣n là công tử nên t́nh nghĩa chẳng mấy đậm đà, thậm chí anh em gặp gỡ chẳng nhớ mặt nhau. Sống túng thiếu đành cam, đâu dám nghĩ tới chuyện nhờ vả người anh ở ngôi cao tuyệt đỉnh.

Ngọc Cầu thông minh, thích múa hát nên chuyên cần luyện tập. Chưa hết tuần trăng đă nằm ḷng nhiều câu ca điệu vũ, tấn thối uyển chuyển nhịp nhàng thanh quư như tiên nữ múa khúc Nghê Thường. Phúc Loan cả mừng, phu nhân cũng vui không kém, chịu bỏ tiền mua tặng Ngọc Cầu thêm nữ trang, Cầu cảm động mến thương coi phu nhân như hiền mẫu. Phu nhân nói với chồng:“Ông để ư Ngọc Cầu nhiều nét hao hao giống bà Chiêu Nghi (tức Trần phu nhân) nhưng khiêu gợi sắc sảo hơn nhiều”. Phúc Loan gật gù khen vợ tinh mắt, nhắc câu thuận vợ chồng tát cạn biển đông. Phu nhân nhắn nhủ Ngọc Cầu:“Con vào cung nhớ hầu hạ chúa thượng chu đáo, được chúa đoái tưởng khác chi phận cá hóa rồng”. Ngọc Cầu vâng dạ, thật sự chẳng hiểu nổi ư phu nhân và quan Phụ Chính. Kế hoạch đưa Ngọc Cầu vào cung được tính toán kỹ càng từng bước, trách chi vị chúa phương nam háo sắc sa ngă lưới t́nh để Phúc Loan thao túng triều đ́nh, đẩy cơ nghiệp họ Nguyễn từ đỉnh cao xuống vực thẳm suy vong...

 

 

***

 

 

Phúc Loan hỏi Chữ Đức:

-Từ ngày viên ngự y người Tàu tự xứ Quảng vào hầu, chúa thượng an vui phiền năo ra sao?

-Bẩm tướng công, lúc mới vào cung ngự y khoe hạ quan, rằng phương thuốc của y danh gia bí truyền, từng được các vua Tàu khen ngợi, chỉ cần đôi liều là cây gậy ngọc cứ như thiết côn, dũng mănh xông pha trận mạc bất kể đêm ngày. Hạ quan tưởng y đại ngôn, sau mới thấy xuân dược của y hiệu nghiệm lạ lùng. Chúa thượng trước ủ rũ nay như c̣ diệc gặp mưa, nay hàng đêm gần gũi dăm bà, tung hoành “hoa dinh cẩm trận” chẳng hề mỏi mệt. Ngài vui vẻ gần như thuở c̣n phu nhân kề cận.

-Ngươi về chuẩn bị chu đáo đêm hát tối mai, nói với nhạc quan dành vai đào chính cho tiểu thư Ngọc Cầu, trong khúc “Chiêm nữ du xuân”. Ta cũng sẽ vào cung hầu chúa. Trước khi dự yến nhớ nhắc ngự y dâng ngài mấy liều xuân dược.

Chữ Đức ra về, thừa biết đêm hát tối nay vô cùng hệ trọng khác với lệ thường. Chữ Đức lệnh đám cung nữ thái giám lau chùi quét dọn, treo đèn kết hoa. Đêm hát chỉ dành cho chúa và quan Phụ Chính. Vài cung nữ nhanh nhẹn sắc sảo được chọn hầu hạ điếu đóm dưới quyền Chữ Đức. Kẻ khác tuyệt nhiên cấm bén măng.

Xế chiều, Phúc Loan vào cung. Chúa ưu ái cho Loan cùng ra hoa viên dự yến, thưởng công Phụ Chính bấy lâu khó nhọc quốc sự. Loan tâu:“Tâu chúa, nước chỉ có một mặt trời, thần với chúa thượng vẫn nghĩa vua tôi chẳng dám phạm thượng”. Loan để chúa ngồi giữa, c̣n ḿnh kê ghế thấp ngồi chếch sang mé trái. Chúa rất đẹp ư, khen Loan tôi trung. Rượu ngon càng uống càng nồng, chúa vui uống tràn, càng vui hơn khi nghe Loan nói đêm hát tối nay sẽ có người ngọc trong vai Chiêm nữ xinh như tiên nga giáng thế. Tiệc tàn khi bóng đêm dần lan, phủ lấp mầu đỏ rực rỡ của hàng phượng vĩ cuối vườn, khóm mẫu đơn đầu hè cũng ch́m trong bóng tối. Phúc Loan ra dấu Chữ Đức mời chúa vào hậu cung thưởng nhạc vũ.

Căn pḥng ấm cúng thoảng hương trầm, ánh nến lung linh huyền ảo, tiếng nhạc mơ hồ xa vắng. Các Chiêm nữ lả lướt uốn lượn thân ḿnh theo sóng nhạc, tuyệt vời đôi bồng đảo nhấp nhô. Chữ Đức đứng hầu chúa, dán mắt vào đám Chiêm nữ, tự xót phận ḿnh bất hạnh bởi cái quư giá nhất của y nay chỉ dùng vào việc thải chất nước dư trong người. Chúa ngồi chăm chú ngất ngây, mải mê trước đám ca nhi đêm nay xinh đẹp lạ thường, ḷng náo nức chờ xem đào chính, ắt hẳn xinh đẹp hơn các ả kia bội phần... Tiếng nhạc bỗng chuyển như sóng dậy ḥa tiếng trống tiếng phách dồn nhịp thôi thúc. Trên sân khấu, hàng trăm ánh nến bừng sáng sau lớp giấy bóng đỏ vàng. Giữa khung cảnh hoành tráng kỳ ảo lạ thường như chốn bồng lai, cô Chiêm nữ xuất hiện rực rỡ với nụ cười nghiêng thành đổ nước, chúa đổ người về phía trước bàng hoàng, phút chốc mơ hồ h́nh bóng người vợ yêu quá cố... Chiêm nữ yêu kiều lả lướt phơi phới xuân t́nh uốn lượn nhịp nhàng trước mặt chúa. Chúa cầm ḷng chẳng nổi, men rượu cộng với xuân dược kích thích lửa dục bừng bừng. Chúa đứng phắt dậy truyền Chữ Đức đưa nàng vào hậu cung. Chúa nói xong rảo bước. Đêm nhạc vũ dừng, mọi người ngơ ngác... Đêm ấy chúa như gà chọi gặp mái tơ, cơn mưa gió băo giông vùi dập ngọc nữ. Ngọc Cầu ứa nước mắt chịu đựng không dám khóc thành tiếng. Lúc chúa ch́m sâu giấc ngủ, nàng phủ tấm chăn mỏng lên người chúa, bó gối ngồi lặng yên trong góc giường. Ray rứt. Oan nghiệp xui khiến người đàn ông đầu đời của nàng lại là vị chúa phương nam, là người anh em chú bác... Đành thôi ván đă đóng thuyền.

Sáng sớm chúa tỉnh giấc thấy Ngọc Cầu nằm co ở góc giường. Chúa vỗ nhẹ, Ngọc Cầu khóc:

-Chúa thượng, em không dám phật ư người. Nhưng em là Ngọc Cầu, con gái Điền Quốc Công..

Chúa trấn tĩnh ngay sau một thoáng thảng thốt. Nghĩ chuyện đă lỡ có hối càng bận tâm. Chúa an ủi:

-Ta chẳng cần biết ái khanh là ai, ta là chúa tể Đàng trong, ta yêu ái khanh, muốn ái khanh là vợ, trọn đời bảo bọc. Ái khanh hiểu thế là đủ...

Chuyện thâm cung lan tràn, vương tộc xôn xao, riêng Nguyễn nguyên phi, người vợ cả của chúa vẫn b́nh thản lạnh lùng làm chúa chột dạ. Chúa hỏi Phúc Loan. Loan đáp:

- Chuyện t́nh duyên éo le ngang trái xẩy ra nơi chốn thâm cung xét cũng b́nh thường. Thuở trước, Công Thượng Vương (tức Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan, con thứ Chúa Săi) chẳng ngăn được ḷng. Sau khi người anh cả Nguyễn Phúc Kỳ mất, chúa say mê Tống phu nhân, vợ của người anh, sống với bà như vợ chồng. Người người đều ngăn nhưng ư chúa đă quyết cũng đành chịu. Chúa thượng nay chỉ cần đưa phu nhân ra sống biệt lập ở điện Trường Lạc. Với thời gian, mọi chuyện rồi sẽ rơi vào quên lăng.

Chúa gật gù:

-Quan Phụ Chính chí lư. Ta c̣n nhớ chuyện thời Trần, vua Thái Tôn bị Thái Sư Trần Thủ Độ buộc phải bỏ vợ là Chiêu Thánh hoàng hậu, lấy chị ruột của bà là Thuận Thiên công chúa. Thuận Thiên có mang ba tháng, lại đang là vợ của Trần Liễu. Éo le ngang trái ở chỗ Trần Liễu là anh ruột nhà vua. Ngay Thái Sư Thủ Độ, ngài là con nuôi họ Trần nhưng sau lại lấy Thiên Cực công chúa làm vợ, bà này trước là hoàng hậu, vợ vua Lư Huệ Tôn. Trong gia tộc họ Trần, bà kể như vai em của Thái Sư.

Ngay hôm sau, Phúc Loan sai thợ sửa sang lại điện Trường Lạc. Chúa kín đáo đưa Ngọc Cầu ra đấy, anh em ngày đêm vui vầy hoan lạc. Ngọc Cầu khéo léo chiều chuộng hết mực nên càng được chúa yêu thương. Thỉnh thoảng chúa mới hồi triều, kỳ dư mọi việc trong ngoài một tay Phúc Loan giải quyết. Phúc Loan hể hà, tự hào vừa thắng nước cờ thí tốt hăm xa. Thái Giám Chữ Đức bỗng trở thành người thế lực... Hai người anh Ngọc Cầu, Phúc Viên Phúc Nghiễm được bổ vào đội thủy cơ ở cửa Eo (Thuận An) và Phố Hội Quảng Nam, trở thành tay chân đắc lực kinh tài của quan Phụ Chính. Tài sản Phúc Loan tăng lên mà cơ nghiệp nhà chúa lún dần. Triều thần hoang mang chia rẽ. Kẻ như cờ bay theo gió tôn phù kẻ mạnh cốt yên sống, hưởng chút bổng lộc cơm thừa canh cặn. Kẻ bất măn ngậm tăm chẳng dám một lời can gián vị chúa đa t́nh tăm tối. Năm sau, Ngọc Cầu hạ sinh công tử Nguyễn Phúc Thuần nên càng được chúa sủng ái. Phúc Loan nhen nhúm mưu đồ dành ngôi báu cho Phúc Thuần một khi chúa mệnh vong. Có lần Phúc Loan hỏi chúa việc chọn người kế vị. Chúa nói đă có chủ trương. Loan hỏi tới, chúa trả lời dứt khoát công tử nào tài đức sẽ được chọn mặt gửi vàng. Loan tinh ư biết công tử thứ chín Nguyễn Phúc Hiệu sẽ là người kế vị. Phúc Hiệu cương nghị thông minh, phong lưu mă thượng, tư chất hơn người thường cùng chúa bàn luận quốc sự. Mùa xuân năm Canh Th́n 1760. Một buổi chiều chúa đang ở điện Trường Lạc nhận hung tin Phúc Hiệu đột ngột từ trần. Chúa thất sắc hăi kinh, đau đớn cảnh chia ĺa phụ tử, thương con đầu xanh mệnh bạc mới hai mươi mốt tuổi đầu. Chúa đem con của Hiệu là Phúc Dương (Hoàng Tôn Dương) vào cung cho nguyên phi dưỡng dục.

Sau cái chết của Phúc Hiệu, chúa ưu tư lặng lẽ thích sống một ḿnh, chiều chiều ngồi nơi hậu hiên uống rượu hết chung này đến chung khác. Chẳng bao lâu h́nh dung tiều tụy, mới ngoài bốn mươi mà tóc đă pha sương. Chúa vẩn vơ nghĩ Phúc Hiệu mất có thể do ḿnh đă trái mệnh trời, bỏ trưởng lập thứ. Chúa quyết định chọn con trưởng Nguyễn Phúc Chương kế vị dù Chương hiền lành chậm chạp, không hợp ư chúa. Ba năm sau, năm Quư Mùi 1763. Những ngày đầu xuân, đô thành Phú Xuân vang tiếng pháo mừng xuân mới, trai thanh gái lịch nhởn nhơ du xuân ngoạn cảnh. Trong nội cung, đám thái giám cung nữ được tự do vui xuân, tụ tập bày cuộc đỏ đen, say sưa chè chén. Chúa cởi mở nh́n mọi người vui chơi cũng thấy vui lây. Niềm vui của chúa chẳng được bao lâu bởi ngay chiều ấy, công tử Nguyễn Phúc Chương đang khỏe mạnh bỗng chết bất ngờ mới ba mươi tuổi ngoài... Triều thần nhiều người ngờ vực, nghi ngại. Các tṛ vui xuân ở đô thành khựng lại, chẳng ai dám đùa với nỗi đau của nhà chúa. Nội cung tang tóc thảm sầu, nguyên phi ngày đêm vật vă khóc than thương con mệnh bạc. Chúa ḷng như xát muối, thẫn thờ ngơ ngác. Chúa tin lời đồng bóng, ăn chay nằm đất, lập đàn giải oan nghiệp, đặt lệ gọi các công tử là mụ hay mệ tránh họa hữu sinh vô dưỡng. Phần mộ Phúc Chương được trấn yểm trừ tà. Chúa tạm yên tâm.

Trước bảy ngày cử hành tuần Chung Thất (49 ngày sau khi từ trần), đưa hương hồn Phúc Chương vào chùa quy y, nương náu cửa Phật. Chúa truyền lập đạo tràng, thỉnh Đại Lăo Ḥa Thượng chùa Báo Quốc và chư tăng luân phiên tụng niệm. Chúa chọn chùa Báo Quốc bởi cảnh chùa do chính chúa truyền trùng tu bề thế, ban biển sơn son thiếp vàng khắc năm chữ “Sắc Tứ Báo Quốc Tự” lại ghi thêm hàng chữ “Quốc Vương Từ Tế Đạo Nhân Ngự Đề”. Từ Tế đạo nhân là pháp danh của chúa.

Từ đấy chúa thường ăn chay niệm phật, sáng sớm thức giấc tĩnh tọa nhập thiền, cảm thấy thân tâm an lạc thư thái. Nhiều hôm chúa lên chùa thăm lăo sư. Chùa tọa lạc trên đồi Hàm Thiên phong cảnh hữu t́nh, trời mây bát ngát. Chúa đắm ch́m trong chốn tĩnh lặng ngắm hoa nở ban mai, ngàn chim ríu rít, nghe hơi gió thoảng, mảnh trăng lung linh trên đỉnh trời lồng lộng. Có lần mời lăo sư thưởng trà trong trai pḥng, chúa nói:

-Ta trót sinh trong chốn lầu son gác tía, vương nghiệp trần nên chuốc phiền năo. Nay muốn t́m chốn chân như, thoát cơi u minh oan nghiệp ngập đầy, những mong lăo sư đôi lời chỉ giáo.

-Bần tăng xuất gia từ tấm bé. Đến nay ngoại bảy chục tuổi đời đă có sáu mươi tuổi hạ (tuổi tu hành). Trải bao năm sống nơi u tịch, đă quen khổ hạnh, sống giản dị ngày ngày kinh kệ như xa hẳn cơi trần đầy rẫy sân si, thoát chước cám dỗ. Bước đường tu đạo ít trắc trở hơn những người nơi chốn phồn hoa đô hội. Chúa thượng nhận mệnh trời trị trăm họ, sự thế phức tạp đa đoan, dùng cái thông tuệ mang lại trăm họ an lạc vui sướng, vui với cái vui của người. Ấy là tâm phật. Bến giác ngay ở cái tâm nào phải cất công t́m kiếm. Tu tại gia là cái tu cao nhất, sá chi ở chùa mới là cơi tu? Sách có câu”Nhất thiết thế gian pháp, vô phi Phật pháp”. Các pháp trong cơi thế đều là Phật pháp, tại ta không liễu ngộ, nên cho là không phải.

Chúa nghe sảng khoái trong ḷng, trở về triều làm cuộc đổi đời, sống giản dị, tránh xa hoa sắc dục. Tính chuyện mai sau, chúa chọn công tử thứ hai Nguyễn Phúc Luân là người kế vị (Phúc Luân là thân phụ Phúc Ánh, tức vua Gia Long sau này). Chúa đắn đo chọn người phụ trách dạy dỗ Phúc Luân xứng giữ ngôi báu. Nội Hữu Trương Văn Hạnh và Thị Giảng Lê Cao Kỷ, hai viên quan đức độ tài năng xuất thân từ viện Hàn Lâm được giao trọng trách. Phúc Loan lo lắng bởi muốn dành ngôi vương cho Phúc Thuần, con của Ngọc Cầu. Loan bàn với Chưởng Cơ Nguyễn Cửu Thống, người rất thân tín, cũng là con rể của chúa. Thống nói:“Tướng công chớ lo, trước tiên phải bành trướng thế lực. Khi đă nắm toàn quyền trong tay, ta tha hồ đN